Chương 6: BIẾT CÁCH TÌM SỰ HIỆN DIỆN CỦA NGƯỜI
rong vài ngày tiếp đó, vài điều ngạc nhiên đã xảy ra cho tôi sau ba lần gặp gỡ.
Trước hết, tôi thấy mình được cảm nghiệm các giấc mơ hay thị kiến, nhưng không giống như hai giấc mơ trước mà đã khởi sự một cuộc phiêu lưu không thể tin được. Thật vậy, cảm nghiệm thứ nhất khiến tôi run rẩy. Vào một buổi chiều khi tôi đang nằm nghỉ và suy nghĩ về Chúa, bỗng dưng tôi thấy mình lơ lửng trên không và bay thẳng ra cửa sổ. Tôi biết chắc là không ngủ mê và thấy mình bay ngang qua các tấm rèm cửa, tôi liếc mắt nhìn xuống đất ở bên dưới. Sợ hãi quá tôi hét lên, bỗng dưng tôi lại thấy mình nằm trên giường. Tôi bàng hoàng sửng sốt, hơi thở vội vàng, cảm thấy đôi chân râm ran như vừa mới trải qua một giấc ngủ, và sau đó máu dồn dập trở lại.
"Lạy Chúa, đó là gì vậy?" Tôi thầm hỏi. Và rồi tôi nhận ra rằng Người muốn ban cho tôi một cảm nghiệm đặc biệt. Tôi ngỏ lời, "Con xin lỗi Chúa, vì con quá nhát quá."
Đêm hôm đó lại xảy ra điều ấy. Nhưng lần này tôi nói với Chúa trong cảm nghiệm và thưa rằng tôi không sợ nữa. Khi trôi qua cửa sổ tôi chỉ nghĩ rằng mình đang "lơ lửng" trong một phương cách tâm linh. Tôi hỏi: "Nhưng như vậy để làm gì, thưa Chúa?"
Quay về với Kinh Thánh tôi tìm kiếm Lời Người để xem có câu gì liên hệ, và tôi cảm thấy sợ hãi khi nghĩ rằng có thể đây là một điều gì không thuộc về Chúa.
Tôi thở phào nhẹ nhõm khi thấy trong Công Vụ Tông Đồ (8:39) có nói về Thần Khí của Chúa bỗng dưng đưa Philip ra khỏi phạm vi thành Azotus sau khi rửa tội cho một thái giám người Ethiopia.
Sau đó tôi được vững tin hơn nữa khi đọc trong thư thứ hai của Thánh Phaolô gửi cho tín hữu ở Côrintô. Trong chương 12, khi nói về thị kiến và mặc khải của Chúa, ngài viết về một người "được nhấc lên tới tầng trời thứ ba". Ngài viết chỉ có Chúa mới biết đó có thực là một cảm nghiệm về thể lý hay không, và tôi cũng cảm thấy giống như vậy. Như Thánh Phaolô có viết thêm: "Người này được nghe những lời … mà không thể diễn tả trong ngôn ngữ loài người."
Tôi cũng được nghe những lời mà không thể diễn tả nhưng không bao giờ tôi quên được những cảnh tượng ấy. Trong một lần cảm nghiệm, tôi thấy một tháp chuông vươn cao tới thiên đàng; bỗng dưng trước mắt tôi là hàng trăm nhà thờ, mới có, xưa có, với đủ loại kiến trúc, và tiếp đó là một nhà thờ bằng vàng thật đẹp. Cảnh tượng lại thay đổi và tôi thấy các trung tâm thành phố lướt qua, các đại siêu thị cũng như khu thị tứ xa xưa. Tất cả thật rõ ràng; tôi có thể nhận ra các tòa nhà chọc trời, các tháp đồng hồ cao vút, và các dinh thự trang hoàng cách kỳ lạ.
Sau đó tim tôi như ngừng đập khi thấy một người cưỡi trên con ngựa đỏ, tay phải cầm thanh gươm; ông ta phi ngựa đây đó trên mặt đất dưới các đám mây. Thỉnh thoảng ông ta lại trồi lên cho đến khi đầu đụng các đám mây, và thỉnh thoảng con ngựa lại cào cào trên mặt đất.
Tôi luôn nghĩ rằng những điều này được ban cho tôi với một lý do đặc biệt, dù chưa được biết.
Tôi cũng thấy rằng bây giờ khi đọc Kinh Thánh tôi cảm nghiệm khác hơn trước. Thỉnh thoảng tôi thấy mình như đi vào cuốn sách; thay vì đọc Kinh Thánh, tôi thấy mình sống Kinh Thánh. Như thể tôi bước qua các trang sách để đi vào thế giới xa xưa của Palestine khi Đức Giêsu Kitô còn bước trên các con đường sỏi đá ở Galilê. Tôi nhìn thấy Người rao giảng và dạy bảo, khi Người sống sứ điệp của Người trong đời sống hàng ngày, và khi Người cho thấy quyền năng của Thần Khí, và sau cùng khi Người vượt qua thập giá và chiến thắng sự chết.
Tôi cũng ngạc nhiên khám phá thấy rằng ảnh hưởng của việc đọc Kinh Thánh bắt đầu được cảm nhận bởi người khác. Điều này xảy ra ngay trong nhà vào một buổi sáng nọ khi các đầy tớ chuẩn bị cho tôi rửa mặt. Cô Nur-jan đang bầy biện các chiếc lược trên khay bằng bạc thì nó làm đổ xuống sàn. Cả một tiếng loảng xoảng thật lớn. Nó sững người, trố mắt nhìn; tôi biết là nó đang chờ đợi lời chửi rủa của tôi. Thật vậy, tôi cũng vừa định khiển trách thì bình tĩnh lại. Thay vì nặng lời, tôi nói, "Không có gì, Nur-jan. Chưa có vỡ mà."
Sau đó một sự can đảm đặc biệt từ từ phát triển trong tôi. Cho tới lúc đó tôi vẫn sợ người khác biết là tôi yêu quý Đức Kitô. Vì thứ nhất, tôi cảm thấy sợ hãi khi nghĩ rằng người ta sẽ diễu cợt về "bà Begum quét đường." Ngoài ra, tôi sợ cả dòng họ sẽ tẩy chay tôi. Cha của bé Mahmud có thể tìm cách đưa nó đi. Tôi sợ ngay cả những người cuồng tín sẽ quyết tâm thi hành mệnh lệnh: ai tách khỏi đức tin thì phải chết.
Do đó tôi không thực sự muốn được thấy tại nhà ông bà Mitchell. Nhóm phụ nữ đến nhà ông bà Mitchell vào tối hôm ấy vẫn là điều tôi lo lắng. Các gia nhân của tôi chắc chắn đã biết có điều gì khác lạ xảy ra cho tôi. Tất cả các điều ấy làm tôi luôn sống trong trạng thái bất an, không biết khi nào thì áp lực ấy bắt đầu xảy ra.
Nhưng sau ba lần gặp gỡ với Chúa, một ngày kia tôi ngạc nhiên khi thấy mình tự thú nhận. Đối với tôi, quyết định trở thành một Kitô Hữu đã được nhiều người biết. Như Kinh Thánh có viết, tôi đã "tuyên xưng Chúa Giêsu với chính miệng lưỡi tôi." "Nếu vậy," tôi tự nhủ, "để xem kết quả như thế nào."
Tôi không ngờ kết quả lại đến mau như vậy. Sau Giáng Sinh 1966 không lâu, một gia nhân đến với tôi, đôi lông mày nó cau lại, và nói: "Thưa bà, bà Mitchell đang ở đây đợi bà."
"Ô vậy à?" tôi trả lời, cố gắng ra vẻ tự nhiên, "mời bà ấy vào." Tim tôi đập mạnh khi bước ra cửa đón khách. "Thật hân hạnh để được bà đến thăm," tôi nói lớn hơn thường lệ, cốt để người gia nhân nghe.
Bà Synnove đến mời tôi ăn cơm tối. "Sẽ có một vài người khác nữa mà chúng tôi nghĩ là bà rất muốn gặp," bà cho biết như vậy.
Những người khác? Tôi cảm thấy một bức tường ngăn cách đang vươn lên trong người. Chắc là bà Synnove bắt gặp ánh mắt do dự của tôi nên trấn an. "Hầu hết họ là Kitô Hữu. Một số là người Anh, một số là người Hoa Kỳ. Bà đến chứ?" Đôi mắt bà có vẻ khẩn khoản.
Và dĩ nhiên--với sự hăng hái nhiều hơn tôi nghĩ--tôi trả lời là tôi rất vui mừng.
Tôi tự hỏi tại sao nhiều Kitô Hữu lại thường hay e thẹn! Trước đây tôi từng tiếp xúc với người tín hữu Kitô trong các bữa tiệc cấp quốc gia mà tôi khoản đãi với tư cách phu nhân của một viên chức chính phủ. Bữa tiệc là các biến cố chính thức, được hầu hạ bởi các gia nhân mặc đồng phục, trong căn phòng sang trọng, giữa một rừng hoa tươi; các bài diễn văn lê thê, với các món ăn được bầy biện trên các đĩa sứ đắt tiền. Trong số khách được mời, có nhiều tín hữu Kitô thuộc các quốc gia khác nhau, nhưng không ai trong họ đề cập đến đức tin của họ, ngay cả khi đó là điều tự nhiên trong lúc trò chuyện. Những người ở nhà ông bà Mitchell, tôi nghĩ, sẽ không quá lạc hậu.
Hôm sau, tôi lái xe đến nhà ông bà Mitchell mà con đường ấy giờ đây đã trở nên quen thuộc. Ông David và bà Synnove đón tiếp tôi cách nồng hậu và giới thiệu tôi với các bạn của họ. Tôi tự hỏi mình sẽ cảm thấy gì khi thực sự biết được vai trò quan trọng của những người mà họ sẽ ảnh hưởng đến đời tôi.
Đôi vợ chồng đầu tiên là ông bà Ken và Marie Old. Ông Ken là người Anh có đôi mắt xanh hóm hỉnh chớp liên hồi sau cặp kính dầy cộm. Ông là một kỹ sư công chánh với dáng vẻ rất thân thiện. Bà vợ ông là một y tá người Hoa Kỳ với dáng vẻ thực tế được bù đắp với nụ cười duyên dáng. Những người khác cũng rất thân thiện.
Và rồi tôi hoảng sợ khi thấy mình được mọi người chú ý. Ai ai cũng nóng lòng muốn nghe những cảm nghiệm của tôi. Điều tôi mong đợi là một bữa tiệc thầm lặng đã trở nên quãng thời gian hỏi và trả lời. Phòng ăn trở nên thinh lặng--ngay cả một vài đứa trẻ cũng ngồi im--khi tôi kể về các giấc mơ, và về những lần gặp gỡ khác nhau với ba ngôi của Thiên Chúa. Vào cuối bữa ăn, ông David khen các món ăn của bà vợ, nhưng ông nói thêm là qua câu chuyện của tôi, ông cảm thấy thực phẩm thiêng liêng lại càng bổ ích hơn.
"Tôi đồng ý," ông Ken Old lên tiếng. "Tôi từng thấy bà trước đây, bà biết không. Tôi từng sống ở làng Wah. Mỗi sáng tôi thường đi qua khu vườn nhà bà để ngắm các bông hoa. Đôi khi tôi thấy bà trong vườn nhưng tôi phải nói là bà khác hơn trước." Tôi hiểu ông ấy muốn nói gì. Vài tháng trước đây, Bilquis Sheikh là một người không bao giờ mỉm cười. "Bà giống như một đứa trẻ," ông Ken nói tiếp, "mà bỗng dưng được một món quà. Qua khuôn mặt của bà tôi thấy được sự kỳ diệu của món quà ấy. Bà trân quý món quà ấy hơn bất cứ điều gì khác."
Tôi có vẻ thích ông này.
Tôi vui vẻ trò chuyện với các người khác, và nhận thấy rằng mình đúng. Những Kitô Hữu này rất khác với các tín hữu mà tôi đã từng gặp trong các buổi tiệc tùng. Trước khi buổi họp mặt chấm dứt, mỗi người lần lượt nói lên cảm nghiệm riêng tư của mình với Thiên Chúa. Ông David nói đúng. Bữa ăn thật ngon, nhưng sự nuôi dưỡng thực sự thì lại xuất phát từ sự Hiện Diện trong căn nhà nhỏ bé đó. Từ trước đến giờ, chưa bao giờ tôi được cảm nghiệm như vậy, và tôi thấy mình ao ước được nuôi dưỡng như thế một cách đều đặn.
Đó là lý do tại sao lời nhận xét của ông Ken đã gây ấn tượng mạnh mẽ nơi tôi, khi tôi chuẩn bị từ giã. Ông bà Ken và Marie tiến đến cầm lấy tay tôi. Ông nói, "Bà Bilquish này, bà sẽ cần có những buổi hiệp thông Kitô Giáo thường xuyên. Mời bà đến nhà chúng tôi vào tối Chúa Nhật này nhé."
"Bà đến nhé?" bà Marie phấn khởi hỏi thêm.
Và điều đó đã đưa tôi vào các cuộc họp thường xuyên với các Kitô Hữu khác. Các tối Chúa Nhật chúng tôi gặp nhau tại nhà ông bà Old, đó là một căn nhà gạch mà phòng khách khó có thể chứa nổi hơn mười người. Chỉ có hai người là Pakistan, còn lại là người Hoa Kỳ và người Anh. Tôi cũng gặp các người mới, như ông bà tiến sĩ Christy. Ông bác sĩ Hoa Kỳ nhỏ nhắn này là chuyên gia về mắt và bà vợ là y tá. Cả hai thuộc ban giám đốc một bệnh xá truyền giáo địa phương. Trong các cuộc họp, chúng tôi ca hát, đọc Kinh Thánh, và cầu nguyện cho các nhu cầu của từng người. Không bao lâu, điều đó đã trở nên cao điểm của tuần lễ.
Và rồi một Chúa Nhật kia, tôi cảm thấy không muốn đến đó. Tôi gọi điện thoại cho ông bà Old và đưa ra các lý do bào chữa. Dường như đó chỉ là chuyện nhỏ, nhưng ngay sau đó tôi cảm thấy bất an. Cái gì vậy! Tôi rảo quanh nhà không ngừng để xem xét các công việc của đầy tớ. Mọi sự đều ngăn nắp, tuy nhiên mọi sự lại dường như xáo trộn.
Sau đó tôi bước vào phòng riêng và quỳ xuống cầu nguyện. Một lát sau, cháu Mahmud lẻn vào, thật âm thầm đến độ tôi không biết mãi cho đến khi nó nắm lấy tay tôi. Nó hỏi, "Ngoại có sao không? Trông ngoại mắc cười quá." Tôi mỉm cười và trấn an nó, ngoại không sao. "Sao ngoại cứ đi lòng vòng trong nhà như tìm kiếm cái gì vậy. Bộ ngoại mất đồ hả?"
Sau đó nó bỏ ra ngoài. Tôi trông như mất cái gì đó?! Mahmud nói đúng. Và ngay lúc đó tôi biết mình bị mất gì. Tôi mất mát không được cảm nghiệm sự vinh hiển của Thiên Chúa. Tại sao vậy? Điều đó có liên hệ gì đến việc tôi không đi tham dự cuộc họp ở nhà ông bà Old không? Có liên hệ gì đến sự hiệp thông mà tôi cần hay không?
Tôi vội điện thoại cho ông Ken và cho biết tôi sẽ đến họp.
Thật là khác biệt. Ngay lập tức tôi cảm thấy, thực sự cảm thấy, sự ấm áp trở lại với linh hồn tôi. Tôi đến họp như đã hứa. Không có gì bất thường xảy ra ở đó, tuy nhiên tôi lại cảm thấy mình bước đi trong sự vinh hiển của Người. Ông Ken nói đúng. Tôi cần sự hiệp thông. Tôi học được bài học. Tôi quyết định từ nay trở đi tôi sẽ tham dự thường xuyên trừ khi chính Chúa Giêsu bảo tôi đừng đến.
Khi được kéo đến gần Chúa Giêsu hơn, tôi thấy có những bước đây đó. Tôi thấy mình ngày càng khao khát lời Chúa trong Kinh Thánh. Hàng ngày, ngay sau khi thức giấc, tôi đọc Kinh Thánh với một cảm nhận sống động. Kinh Thánh trở nên sống động đối với tôi, soi dẫn cho tôi, toả sáng cho từng bước tôi đi. Thật vậy, Kinh Thánh là dầu thơm tôi ưa thích. Nhưng ở đây tôi cũng tìm thấy một điều kỳ lạ. Một ngày kia Mahmud và tôi sửa soạn đi thăm mẹ của nó. Vì tối hôm ấy tôi đi ngủ trễ nên không cảm thấy muốn thức dậy sớm đọc Kinh Thánh, tôi bảo nhỏ Rasham đánh thức tôi dậy với bình trà nóng trước khi đi.
Đêm hôm ấy tôi không ngủ được. Tôi trằn trọc, xoay trở luôn và mơ thấy ác mộng. Khi nhỏ Rasham bước vào, tôi thực sự mệt lả. Và tôi nhận thấy rằng cả ngày hôm ấy không có gì trôi chảy cả.
Thật lạ lùng! Chúa muốn nói với tôi điều gì? Có phải Người muốn tôi đọc Kinh Thánh hàng ngày không?
Đó là lần thứ hai tôi cảm thấy như bước ra khỏi sự hiện diện vinh hiển của Người.
Tuy nhiên, cảm nghiệm ấy đã để lại cho tôi một cảm giác phấn khởi kỳ lạ. Vì tôi cảm thấy là mình đang được tham dự vào một chân lý quan trọng mà không biết. Có những lần tôi được ở trong sự Hiện Diện và cảm thấy một niềm vui và bình an sâu xa, và có những lần khi tôi mất đi sự Hiện Diện của Người.
Đâu là yếu tố then chốt? Tôi có thể làm gì để được gần với Người?
Tôi nghĩ lại những lần khi Người dường như thật gần với tôi, mãi từ hai giấc mơ và cái buổi chiều tôi được ngửi hương thơm tuyệt vời trong khu vườn mùa đông. Tôi nghĩ đến lần đầu tiên khi đến nhà ông bà Mitchell và những lần sau này khi tôi đọc Kinh Thánh thường xuyên, và tham dự cuộc họp Chúa Nhật ở nhà ông bà Old. Hầu như đây là những lần mà tôi biết rõ Chúa ở với tôi.
Và tôi cũng nghĩ về những lần trái ngược, khi tôi biết đã đánh mất cảm nhận được gần gũi với Người. Trong Kinh Thánh nói gì? Đừng làm phiền lòng Thánh Thần của Thiên Chúa (Êphêsô 4:30). Đó có phải là khi tôi la mắng các đầy tớ? Hay khi tôi không đọc Kinh Thánh thường xuyên để nuôi dưỡng linh hồn tôi? Hay khi tôi không đến họp ở nhà ông bà Old?
Một phần của yếu tố then chốt để được ở trong tình bạn với Người là sự vâng phục. Khi tôi vâng phục, tôi được phép ở trong sự Hiện Diện của Người.
Tôi lật Kinh Thánh ra và tìm trong Gioan mãi cho đến khi tôi gặp được câu nói của Chúa Giêsu:
"Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy, và chúng ta sẽ đến và ở lại trong người ấy" (Gioan 14:23)
Đó là kiểu cách diễn tả của Phúc Âm về điều mà tôi muốn nói. Ở trong sự vinh hiển. Đó là điều mà tôi cố gắng thực hiện!
Và then chốt là sự vâng phục. Tôi cầu nguyện, "Ôi Cha ơi. Con muốn trở nên tôi tớ Cha, như được viết trong Kinh Thánh. Con sẽ vâng lời Cha. Con luôn nghĩ đó là sự hy sinh khi từ bỏ ý riêng mình. Nhưng đó không phải là hy sinh vì nó giúp con được gần với Cha. Làm thế nào mà sự Hiện Diện của Cha lại là sự hy sinh được!"
Tôi chưa bao giờ quen với những lần khi Chúa dường như trực tiếp nói với tâm trí tôi, như khi sau này tôi tin thực là như vậy. Có ai khác ngoài Thiên Chúa là người yêu cầu tôi tha thứ cho người chồng cũ! Bilquis, hãy yêu thương người chồng. Hãy tha thứ cho hắn.
Trong giây lát, tôi ngồi đó sững sờ bất động. Cảm được tình yêu của Chúa khi yêu thương tha nhân nói chung thì rất khác với yêu thương một người mà họ đã làm tôi đau khổ nhiều.
"Cha ơi, con không thể làm điều đó được. Con không muốn tha thứ hay chúc lành cho Khalid." Tôi nhớ có lần thật trẻ con khi tôi xin Chúa đừng hoán cải chồng cũ của tôi để ông ta không có được niềm vui như tôi từng có. Và giờ đây Thiên Chúa lại yêu cầu tôi yêu thương người này sao? Tôi cảm thấy sự giận dữ dâng trào trong người khi tôi nghĩ về Khalid, và mau mắn gạt ông ta ra khỏi tâm trí. "Lạy Chúa, con có thể quên hắn. Như vậy đủ chưa?"
Đó có phải là sự tưởng tượng của tôi hay sự rực sáng của sự Hiện Diện Chúa đã ra lạnh lẽo? "Lạy Chúa, con không thể tha thứ cho chồng con. Con không có sức để làm điều đó."
Ách của ta thì dễ dàng và gánh của ta thì nhẹ nhàng (Mt. 11:30)
Tôi kêu lên, "Chúa ơi, con không thể nào tha thứ cho hắn!" Sau đó tôi kể ra biết bao điều xấu xa mà hắn đã làm cho tôi. Khi kể như vậy, các vết thương khác lại lộ ra, đó là những đau khổ tôi cố quên đi vì thật nhục nhã khi nghĩ đến. Lòng căm thù ăn sâu trong người tôi và giờ đây tôi cảm thấy tách biệt khỏi Thiên Chúa. Quá sợ hãi, tôi khóc lóc như một đứa trẻ lạc loài.
Và thật lạ lùng, thật mau lẹ, Người ở đó với tôi trong căn phòng. Phủ phục dưới chân Người, tôi xưng thú lòng căm thù và sự bất lực để tha thứ.
Ách của ta thì dễ dàng và gánh của ta thì nhẹ nhàng.
Một cách dần dần, quyết liệt, tôi trao gánh nặng của tôi cho Người. Tôi trút bỏ sự oán giận, sự đau khổ, và sự tổn thương đã ung thối, đặt tất cả trong bàn tay của Người. Bỗng dưng tôi cảm thấy một tia sáng loé lên trong tôi, như tia bình minh. Thở ra nhẹ nhàng, tôi bước vội đến tủ áo và lôi ra một tấm ảnh trong khung vàng và nhìn vào khuôn mặt của Khalid. Tôi cầu nguyện: "Ôi lạy Cha, xin hãy lấy đi sự oán hờn của con và lấp đầy con với tình yêu của Ngài dành cho Khalid, nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa Cứu Thế."
Tôi đứng đó một hồi lâu, nhìn vào tấm ảnh. Từ từ, tâm tình xấu xa của tôi bắt đầu phai nhạt. Trong khung cảnh ấy một tình yêu bất ngờ xảy đến, một cảm nhận chăm sóc cho người ở trong hình. Tôi không thể tin được. Tôi thực sự ao ước cho người chồng cũ của tôi được lành mạnh.
"Lạy Chúa, xin chúc lành cho anh ấy, hãy ban cho anh ấy niềm vui, hãy để anh ấy hạnh phúc trong đời sống mới."
Khi tôi thầm thì nói những lời này, đám mây đen như cất khỏi tôi. Một sức nặng được lấy đi khỏi linh hồn tôi. Tôi cảm thấy bình an, thư thái.
Một lần nữa tôi lại cảm thấy mình sống trong vinh hiển của Người.
Và một lần nữa tôi thấy mình muốn được ở mãi với Người. Để nhắc nhở tôi về khao khát này, tôi bước xuống lầu, dù trời đã khuya, và tìm một ít phẩm nhuộm. Tôi vẽ một thập giá lớn vào lưng hai bàn tay để luôn luôn nhắc nhở tôi.
Nếu có gì để nói về điều đó thì tôi sẽ không bao giờ tự ý bước ra khỏi tình bạn với Người.
Tôi biết chắc phải mất một thời gian khá lâu để học được cách sống trong sự vinh hiển của Người, nhưng đó là thời gian huấn luyện mà tôi vui mừng đón nhận.
Và sau đó trong một đêm kia tôi có được cảm nghiệm kinh khủng. Tôi không biết đó có phải là từ phía bên kia.

|