Chương 7: RỬA TỘI BẰNG LỬA VÀ NƯỚC
rong một đêm tháng Giêng 1967 tôi đang ngủ say thì giật mình thức giấc vì chiếc giường rung lên dữ dội.
Động đất? Tim tôi thắt lại vì những lo sợ không tên. Và sau đó tôi cảm thấy một sự hiện diện ác độc khủng khiếp trong căn phòng; chắc phải là ma quỷ.
Bỗng dưng tôi bị quăng ra khỏi giường; trong thân xác hay trong tinh thần tôi cũng không rõ. Nhưng tôi bị xô đẩy và quăng ném như một cọng rơm trong cơn bão. Khuôn mặt của cháu Mahmud chợt hiện ra và tim tôi gào thét muốn bảo vệ cháu.
Tôi nghĩ, chắc là cái chết đang đến với tôi, linh hồn tôi run rẩy. Sự hiện diện ghê tởm đó trùm lấp tôi như một đám mây đen và theo bản năng tôi kêu gào với Đấng mà giờ đây là tất cả đối với tôi. "Ôi lạy Chúa Giêsu!" Ngay lúc ấy tôi run lên bần bật, như một con chó đang hành hạ con mồi.
"Tôi có sai lầm khi gọi đến Chúa Giêsu không?" Hồn tôi kêu gào Chúa. Lúc ấy một sức mạnh vô bờ tràn qua người tôi và tôi kêu lớn: "Tôi sẽ gọi đến Người! Giêsu! Giêsu! Giêsu!"
Vào lúc ấy sự phá hoại dịu hẳn. Tôi nằm đó thờ phượng và ngợi khen Thiên Chúa. Tuy nhiên, lúc bấy giờ khoảng 3g sáng, mắt tôi nặng trĩu và chìm vào giấc ngủ.
Tôi thức giấc khi nhỏ Raisham đem trà cho tôi vào buổi sáng. Tôi nằm đó một lát và cảm thấy khuây khỏa. Khi nhắm mắt cầu nguyện, tôi thấy Đức Giêsu Kitô đứng trước mặt. Ngài mặc áo dài trắng và áo choàng tím. Ngài mỉm cười nhân từ và nói, "Đừng lo; sẽ không xảy ra nữa đâu."
Sau đó tôi cảm thấy rằng cái cảm nghiệm đau đớn đó là thuộc Satan, một thử thách mà Chúa Giêsu cho phép vì lợi ích cho chính tôi. Tôi nhớ lại lời kêu tự đáy linh hồn: "Tôi sẽ gọi đến Thánh Danh Người, tôi sẽ kêu Chúa Giêsu Kitô."
Chúa vẫn đứng trước mặt tôi. Người nói, Bilquis, đã đến lúc để con rửa tội trong nước.
Rửa tội trong nước! Tôi nghe những lời đó thật rõ, và tôi không thích.
Sau khi thay quần áo tôi nói với Raishan và Nur-jan đừng để ai quấy rầy tôi cho đến trưa. Tôi đứng ở cửa sổ suy tư. Không khí buổi sáng lạnh lành và hơi nước bốc lên từ khu vườn mùa xuân. Tôi biết sự quan trọng của việc rửa tội thì không thể nào bị bỏ qua trong thế giới Hồi Giáo. Một người có thể đọc Kinh Thánh mà không tạo nên sự thù nghịch quá đáng. Nhưng rửa tội là một vấn đề khác. Đối với Hồi Giáo, đây là dấu chỉ hiển nhiên rằng người hoán cải đã từ chối đức tin Hồi Giáo để trở nên một Kitô Hữu. Đối với người Hồi Giáo, rửa tội là chối đạo.
Do đó, đây là một thử thách khó khăn. Vấn đề hiển nhiên được vạch ra. Liệu tôi có đầu hàng khi bị đối xử như một người bị ruồng bỏ, hay tệ hơn nữa, một người phản bội, hay tôi sẽ vâng lời Chúa Giêsu?
Trước hết, tôi phải biết chắc rằng tôi thực sự vâng lời Chúa chứ không phải là một ảo giác. Vì tôi là một Kitô Hữu quá mới mẻ để tín thác vào "những lời đó." Không có gì khảo sát ấn tượng của tôi tốt hơn là Kinh Thánh. Do đó tôi trở về với Kinh Thánh và đọc xem chính Chúa Giêsu đã chịu phép rửa như thế nào ở sông Giođan. Và tôi cũng nhìn đến thư Thánh Phaolô gửi cho tín hữu Rôma khi ngài nói về nghi thức này dưới hình thức chết đi và sống lại. "Người cũ" chết đi, và một tạo vật mới phát sinh, để lại mọi tội lỗi đằng sau.
Thì ra chỉ có vậy. Nếu Chúa Giêsu chịu phép rửa, và nếu Kinh Thánh kêu gọi thì dĩ nhiên tôi sẽ vâng lời.
Ngay sau đó tôi gọi Raisham.
Tôi nói, "Bảo bác tài chuẩn bị xe. Tôi sẽ đi thăm ông bà Olds sau bữa trưa."
Sau đó không lâu một lần nữa tôi lại ngồi trong phòng khách nhỏ bé của ông Ken và bà Marie. Tôi nhìn thẳng vào ông Ken và nói, "Tôi biết chắc rằng Chúa nói với tôi phải được rửa tội."
Ông nhìn tôi một hồi lâu, đôi lông mày hơi nhíu lại, có lẽ ông đang cố thăm dò ý định thầm kín của tôi. Sau đó ông nghiêng người tới trước và nói, rất nghiêm trọng: "Bà có sẵn sàng với những gì có thể xảy ra chưa?"
"Có, nhưng…" tôi chớm trả lời thì ông Ken đã gián đoạn, giọng ông thấp xuống.
"Bà Bilquis này, một người Pakistan mà tôi mới gặp hôm trước hỏi rằng tôi có phải là người quét đường ở quê hương tôi không." Ông nhìn tôi thành khẩn. "Bà có biết rằng kể từ lúc đó trở đi bà không còn là Begum Sheikh, một địa chủ đáng kính với bao thế hệ uy tín nữa không? Từ giờ trở đi bà sẽ bị đồng hóa với những Kitô Hữu quét đường ở đây?"
"Phải," tôi trả lời. "Tôi biết điều đó."
Lời nói của ông càng trở nên chắc nịch và tôi cứng rắn nhìn thẳng vào mắt ông.
Ông nói tiếp, "Và bà có biết là cha của bé Mahmud có thể đem nó đi dễ dàng không? Ông ta có thể gán cho bà là một người giám hộ bất xứng."
Tim tôi thắt lại. Tôi luôn lo lắng về điều này, nhưng khi nghe ông Ken nói tôi lại càng cảm thấy điều ấy rất có thể xảy ra.
"Có, tôi biết," tôi trả lời yếu ớt. "Tôi biết nhiều người sẽ nghĩ là tôi đang phạm tội ác. Nhưng tôi muốn được rửa tội, tôi phải vâng lời Thiên Chúa."
Cuộc đối thoại của chúng tôi bỗng dưng bị cắt ngang vì ông bà Mitchell đến. Ngay lập tức ông Ken cho họ biết về những điều quan trọng vừa thảo luận. Ông nói, "Bà Bilquis muốn được rửa tội."
Im lặng. Bà Synnove ho khan.
"Nhưng chúng ta không có cái bồn lớn," ông David lên tiếng.
"Còn nhà thờ ở Peshawar thì sao?" bà Marie hỏi. "Họ có bồn lớn không?"
Tim tôi chùng lại. Peshawar là thủ đô của Tỉnh Biên Giới Tây-Bắc. Nói cho cùng, đó là địa đầu giới tuyến, một tỉnh lẻ đầy người Hồi Giáo cực đoan nổi tiếng là hành động hấp tấp. Tôi nghĩ, chẳng có sự bí mật nào có thể giữ được. Cả tỉnh sẽ biết trong vòng một giờ đồng hồ.
Sau cùng ông Ken sẽ sắp xếp cho chúng tôi đến Peshawar. Chúng tôi sẽ được ông mục sư ở đó trả lời trong một vài ngày.
Tối hôm đó điện thoại reo. Đó là Bác Fateh. Tôi rất yêu quý ông. Ông rất thích thú với sự học hỏi tôn giáo của tôi.
"Bilquis?" Giọng nói uy quyền của ông có vẻ khó chịu.
"Có đúng là cháu đang đọc Kinh Thánh không?"
"Phải." Tôi tự hỏi làm sao ông biết. Ông còn nghe những gì nữa không?
Bác Fateh hắng giọng. "Bilquis, đừng bao giờ nói về Kinh Thánh với bất cứ người Kitô Hữu nào. Cháu phải biết họ rất lý lẽ. Lý luận của họ thường đưa đến sự lầm lẫn."
Tôi vừa định cắt ngang thì ông đã lấn giọng. "Đừng có mời ai…," ông nhấn mạnh "…bất cứ ai mà không hỏi bác! Nếu cháu làm như vậy, cháu biết là cả giòng họ sẽ không bênh vực cháu đâu."
Bác Fateh im lặng một lúc để lấy hơi. Tôi lợi dụng để lên tiếng.
"Bác ơi, nghe cháu nói nè." Một sự căng thẳng gượng ép ở đầu giây bên kia. Tôi lên tiếng, "Bác ơi, bác nhớ rằng có ai vào nhà cháu mà không được mời đâu." Tôi từng nổi tiếng là nhẫn tâm từ chối không muốn gặp những người mà không hẹn trước.
Tôi kết luận, "Bác thấy đó, cháu chỉ gặp những người cháu thích mà thôi. Chào bác nhé."
Tôi gác máy điện thoại. Đó có phải là điềm báo trước những điều sẽ xảy đến đối với sự lưu tâm của gia đình tôi? Chỉ mới nghe rằng tôi đọc Phúc Âm mà bác Fateh đã phản ứng dữ dội như vậy, điều gì sẽ xảy ra khi bác và cả gia đình biết tôi rửa tội? Tôi không muốn nghĩ về điều ấy.
Điều đó như thêm dầu vào ngọn lửa nôn nóng muốn được rửa tội ngay lập tức. Tôi không chắc là tôi có thể cưỡng lại những áp lực từ biết bao nhiêu người trong gia đình mà tôi yêu mến.
Chẳng nghe gì từ ông Ken.
Sáng hôm sau khi tôi đọc Kinh Thánh, tôi lại gặp câu chuyện của một thái giám người Ethiopia mà ông Philíp đã rao giảng tin mừng của Chúa. Điều đầu tiên ông thái giám thi hành ngay khi trông thấy vũng nước là nhảy xuống cáng để được rửa tội. Như thể Chúa nói với tôi một lần nữa, "Phải rửa tội ngay bây giờ!" Tôi cảm thấy chắc chắn là Người muốn nói như vậy vì nếu tôi đợi lâu hơn nữa, sẽ có điều gì hay ai đó ngăn cản.
Tôi nhảy ra khỏi giường, với một sức mạnh mới tôi cảm thấy có động lực ngăn cản tôi thi hành điều Chúa muốn. Tôi cầm lấy cuốn Kinh Thánh, cho gọi các đầy tớ để giúp tôi thay quần áo và sau đó tôi chạy vội đến nhà ông bà Mitchell.
"Ông David này," tôi lên tiếng khi còn đang đứng ở ngưỡng cửa, "có được trả lời gì từ Peshawar không?"
"Không, vẫn chưa có."
Tôi cao giọng, "Có thể nào ông rửa tội cho tôi ở đây không? Hôm nay? Ngay bây giờ?"
Ông David nhăn mặt. Ông đưa tôi vào nhà tránh cái lạnh lẽo của buổi sáng. "Này bà Bilquis, chúng ta không thể vội vã về một điều lớn lao như vậy."
"Tôi phải vâng lời Thiên Chúa. Người tiếp tục bảo tôi phải vội vã." Tôi kể cho ông nghe bài Kinh Thánh vừa đọc buổi sáng, và về sự nhất định mà Thiên Chúa muốn tôi được rửa tội trước khi bất cứ gì xảy ra cho tôi.
Ông David giơ tay một cách tuyệt vọng. "Tôi phải đưa Synnove lên Abbottabad chiều nay và ngay bây giờ không làm được gì cả."
Ông khoác tay lên vai tôi. "Bà hãy kiên nhẫn. Tôi chắc chắn là chúng ta sẽ được câu trả lời từ Peshawar ngày mai."
Tôi lái xe sang nhà ông bà Olds.
Khi ông bà đón tôi ở cửa, tôi nói lớn, "Làm ơn cho tôi biết có cách nào để tôi được rửa tội ngay lập tức không?"
"Chúng tôi sẽ hỏi vị mục sư của chúng tôi," ông Ken vừa nói vừa cầm tay tôi đưa vào phòng khách. "Mục sư nói vấn đề này phải đi qua một Thể Thức."
"Thể Thức?" tôi hỏi lại, "Đó là cái gì?"
Ông giải thích rằng vị mục sư muốn rửa tội cho tôi nhưng ông phải được sự chấp thuận của ban điều hành hội thánh. Ông nói thêm, "Điều này có thể mất đến vài ngày, và bất cứ gì cũng có thể xảy ra."
Tôi thở dài, "Phải, tiếng sẽ đồn ra ngoài." Một cách tuyệt vọng, tâm trí tôi lướt qua tất cả mọi trường hợp có thể.
Sau đó ông Ken kể cho tôi nghe một điều kinh ngạc. Vào nửa đêm ông nghe có tiếng của một người đàn ông bảo ông "Giở Kinh Thánh trang 654." Ông nghĩ, thật là một kiểu cách kỳ lạ khi bảo ông mở đoạn Kinh Thánh. Đó là sách ông Job 13:13 và 14, và hai câu này sáng hẳn lên. Ông đọc các câu này mà cảm thấy sung sướng và dường như có ý nghĩa cho tôi. Câu ấy bắt đầu thế này: "Vì sao tôi liều mạng đến một mất một còn? Dù Người giết tôi, tôi vẫn tín thác vào Người."
Tôi có sẵn sàng ngay cả điều này không, tôi tự hỏi? Sự tín thác của tôi có mạnh mẽ như vậy không? Tôi đứng lên và nắm tay ông Ken. "Hãy rửa tội cho tôi ngay bây giờ. Và sau đó, dù Người có giết tôi, tôi sẵn sàng. Ở trên Thiên Đàng với Người thì tốt hơn."
Tôi ngồi sụp xuống ghế và ngước nhìn ông Ken, ngỏ lời xin lỗi. "Tôi xin lỗi ông. Tôi đang bối rối. Nhưng tôi biết một điều: Chúa nói tôi phải được rửa tội ngay bây giờ. Tôi sẽ nói thẳng thừng với ông. Ông có giúp tôi hay không?"
Ông Ken ngồi xuống ghế, tay xoa mớ tóc nâu. "Dĩ nhiên," vừa nói ông vừa nhìn bà Marie. "Sao chúng ta không đến nhà ông bà Mitchell xem có thể làm được những gì?"
Chúng tôi lái xe qua các con đường ngoằn ngoèo của làng Wah. Chúng tôi ngồi im lặng một lúc với ông bà Mitchell ở phòng khách để cầu nguyện. Sau đó ông Ken thở thật dài, nghiêng mình tới trước và nói với tất cả chúng tôi. "Tôi chắc là tất cả chúng ta đều đồng ý là Thiên Chúa từng dẫn dắt bà Bilquis trong một phương cách bất thường cho đến bây giờ. Và nếu bà nhất định rằng việc rửa tội cấp kỳ là ý của Chúa thì chúng ta cũng đừng ngăn cản bà." Ông quay sang David. "Ông sẽ đến Abbottabad. Tại sao Marie và tôi lại không đưa bà Bilquis tới đó hôm nay, để gặp ông và Synnove, và sắp xếp việc rửa tội cho bà Bilquis ở đó vào chiều nay? Chúng ta quên Peshawar đi."
Bỗng dưng, dường như đó là điều phải làm và tất cả chúng tôi bắt đầu chuẩn bị. Tôi vội vã về nhà, bảo nhỏ Raisham lấy những quần áo mà ông bà Olds cho biết là tôi sẽ cần đến.
Tuy trong hoàn cảnh như vậy tôi vẫn cảm thấy bứt rứt. Ngay cả sự gần gũi với Thiên Chúa tôi cũng cảm thấy yếu dần. Không phải là Người đã ban cho tôi một chỉ thị khẩn cấp trong quá nhiều phương cách sao? Không phải là Người đã ra lệnh cho tôi phải rửa tội ngay bây giờ sao?
Một tư tưởng thoáng qua trong đầu. Tôi xua đuổi ý tưởng ấy. Đó là điều không thể tưởng được.
Nhưng khi ý tưởng này vẫn dai dẳng, tôi cầu xin Chúa: "Điều đó có đúng không, thưa Cha?"
Và rồi vào ngày 24 tháng Giêng 1967, khởi sự một việc rửa tội bất thường nhất.
Tôi bảo nhỏ Raisham, "Lấy nước đổ đầy bồn tắm."
Nó trở về với nhiệm vụ, trên mặt đôi chút bối rối, chưa bao giờ tôi tắm vào giờ này.
Raisham cho biết bồn tắm đã đầy nước; tôi bảo nói lui ra ngoài. Điều mà tôi thi hành có lẽ có những trở ngại thần học. Nhưng tôi không nghĩ theo ngôn ngữ thần học. Tôi chỉ đơn giản cố tuân theo một thúc giục mạnh mẽ được Kinh Thánh hỗ trợ. Tôi tin rằng tôi phải được rửa tội ngay bây giờ, và với những cản trở tôi đang cảm thấy, tôi không nghĩ là có thể chờ đợi cho đến chiều.
Do đó, vì tôi muốn ở trong sự Hiện Diện của Thiên Chúa hơn bất cứ điều gì trên đời này, và phương cách để đạt được điều đó là sự vâng phục. Tôi đi vào phòng tắm và bước vào bồn. Khi tôi ngồi xuống, nước dâng lên tới vai. Tôi đặt tay lên đầu và nói lớn: "Bilquis, ta rửa ngươi nhân danh Cha và Con và Thánh Thần." Tôi tự ấn đầu xuống nước để toàn thân chìm trong nước.
Tôi vươn lên khỏi mặt nước, hân hoan, kêu cầu và ngợi khen Thiên Chúa. "Ôi, Cha ơi, con cám ơn Cha. Con thật may mắn." Tôi biết rằng tội của tôi đã được tẩy sạch và tôi được chấp nhận trong ánh mắt của Thiên Chúa.
Tôi không giải thích cho nhỏ Raisham biết điều tôi vừa làm và theo cung cách thường lệ nó cũng chẳng hỏi. Trong vòng vài phút tôi đã thay quần áo xong, chờ ông bà Olds đến chở tôi đi rửa tội ở Abbottabad. Phải nói rằng tôi không biết vấn đề thần học này như thế nào. Tôi biết các động lực của tôi. Những bạn Kitô Hữu này chăm sóc tôi, giúp đỡ tôi. Họ phải khó nhọc vì tôi và tôi không muốn làm vấn đề thêm lộn xộn. Tôi sẽ tiếp tục đi rửa tội, mặc dù theo bản năng tự nhiên tôi biết là đã thi hành điều Thiên Chúa muốn. Tôi cố đọc Kinh Thánh, nhưng thần khí tôi quá hân hoan đến độ tôi không thể nào tập trung tư tưởng. Tôi lại trở về với sự Vinh Hiển, cũng như khi tôi vâng phục Người một cách dứt khoát, với cuốn Kinh Thánh chỉ để kiểm chứng lại.
"Thưa bà Begum Sahib."
Tôi nhìn lên. Đó là Raisham. Ông bà Olds đang chờ ở dưới nhà.
Tôi nói với cháu Mahmud là tôi sẽ đi vắng cho đến tối. Tôi cảm thấy tốt hơn là nó không nên can dự vào một biến cố mà sẽ đem lại các hậu quả không vui thích gì. Sau đó tôi xuống nhà để gặp ông bà Ken và Marie.
Phải mất hai giờ lái xe đến Abbottabad trên con đường giữa hai hàng cây tùng. Tôi không nhắc đến việc rửa tội trong bồn tắm. Thay vào đó tôi nhắc lại những lần gia đình tôi đi chơi trên con đường này với hàng loạt xe chất đầy hành lý theo sau. Trong thinh lặng tôi tự hỏi không biết tôi có bất trung với di sản ngày xưa đó hay không.
Chúng tôi đến trung tâm truyền giáo và nhận thấy ông bà Mitchell đang đợi ở đó với một bác sĩ Gia Nã Đại và vợ ông ta, là ông Bob và bà Madeline Blanchard. Bà Synnove nói, "Ông này là Padri Bahadur, mục sư sẽ rửa tội cho bà."
Tôi nhìn quanh, có một bác sĩ Anh Giáo và một mục sư người Pakistan.
"Bà Bilquis này, có lẽ đây là điều tiên tri," bà Synnove nói. "Có lẽ nhờ bà mà nhiều Kitô Hữu đã đến gần với nhau, vì đây là lần đầu tiên ở Pakistan mà người Baptist, người Presbyter và Anh Giáo đến với nhau trong một bí tích rửa tội chung."
Một bầu khí phấn khởi trong căn phòng. Các cửa được đóng lại, các rèm che được kéo xuống và tôi tưởng tượng nó giống như thế kỷ thứ nhất khi các tín hữu Kitô phải rửa tội trong các hang toại đạo ở Rôma.
Khi chúng tôi chuẩn bị nghi thức, tôi nhìn quanh và hỏi, "Nhưng cái bồn đâu?"
Thì ra không có. Ông Ken nói tôi sẽ được rẩy nước.
"Nhưng Chúa Giêsu bị nhận chìm trong sông Giođan mà," tôi lên tiếng.
Chúng tôi vừa mới băng qua con sông ngay trước khi đến trung tâm truyền giáo. "Sao không đưa tôi xuống con sông ấy?" Tôi hỏi và rồi nhận ra rằng trời thật lạnh và những người khác cũng phải xuống sông và rồi tôi không thúc bách điều đó. Nhất là vì tôi chắc chắn rằng tôi đã được lãnh nhận bí tích này.
Và vì vậy tôi được rửa tội lần nữa, lần này là rẩy nước. Trong khi được rẩy nước, tôi nghĩ chắc Chúa phải phì cười. Sau nghi thức, tôi nhìn lên thấy nước mắt chảy dài trên khuôn mặt của những người trong phòng. Tôi cười và nói, "Chắc là những giọt nước mắt này không khích lệ tôi chút nào cả!"
"Ôi bà Bilquis," bà Synnove khụt khịt ôm lấy tôi, và không nói được nữa.
Những người khác lên tiếng chúc mừng. Bà Synnove hát thánh vịnh, ông Ken đọc Kinh Thánh, và sau đó là lúc phải trở về nhà.
Đó là quãng đường thầm lặng. Không còn nhiều khắc khoải; tôi cảm thấy thật thoải mái ở giữa những Kitô Hữu. Tất cả chúng tôi tạm biệt nhau trong nước mắt, và tôi đi vào nhà.
Ngay khi bước qua cửa tâm trạng thoải mái của tôi tiêu tan. Người quản gia chạy vội đến tôi, mắt tròn xoe, giọng nói đầy lo lắng.
"Thưa bà, gia đình bà đến đây tìm bà! Họ nói là họ biết bà đang giao thiệp với người Kitô Hữu và…"
Tôi giơ tay lên ra lệnh, "Thôi đủ rồi. Nói cho tôi biết ai đến."
Khi người quản gia kể tên, một sự hiểu biết mới tràn ngập tôi. Đó là các phần tử thâm niên trong gia tộc, các bác, các anh em họ lớn tuổi, các cô dì, là những người chỉ đến nhà tôi khi có điều lưu tâm quan trọng.
Tâm hồn tôi chùng xuống. Tối hôm đó tôi ngồi ăn với cháu Mahmud, cố không lộ vẻ lo sợ, nhưng ngay sau khi nó vào giường ngủ tôi cũng lui về phòng riêng. Tôi nhìn qua cửa sổ; tuyết đã ngưng đổ và dưới ánh trăng mùa đông tôi có thể nhìn thấy hình dáng của khu vườn yêu quý. Nhìn quanh, tôi cảm thấy thoải mái với ngôi nhà cũ mà tôi rất thích, đó là thâm cung của tôi, nơi tôi ẩn dật.
Và bây giờ? Liệu tôi có thể giữ được ngay cả căn nhà của mình hay không? Đó là một tư tưởng kỳ lạ, vì tôi từng cảm thấy an toàn về gia đình, tài chánh và uy tín. Tuy nhiên tôi cảm thấy chắc chắn rằng đó cũng là một tư tưởng có tính cách tiên tri. Các động lực mà tôi biết đang tấn công tôi đã bắt đầu lộ ra qua gia đình. Hầu hết những "sức mạnh", "sự an toàn" của tôi nằm trong gia đình. Điều gì sẽ xảy ra nếu bỗng dưng cùng một lúc tất cả đều chống lại tôi?
Chắc chắn rằng đây là lý do mà Chúa cả quyết rằng tôi phải được rửa tội ngay lập tức. Người biết tôi. Người biết chỗ mà tôi dễ bị tổn thương nhất.
Tôi đứng đó nhìn qua cửa sổ. Bóng cây lay động đang chờn vờn trên tấm rèm.
"Lạy Chúa," tôi cầu nguyện, "xin đừng để họ đến với con cùng một lúc. Xin để họ đến từng người một."
Không lâu sau khi thốt lên những lời này, có tiếng gõ cửa. Người tớ gái bước vào đưa cho tôi một gói đồ và nói, "Gói này mới được giao cho bà." Nóng lòng tôi xé toang giấy gói và thấy quyển Kinh Thánh. Viết trên trang giấy trắng bên trong là hàng chữ: Cho người em thân mến của chúng tôi nhân ngày sinh nhật. Ký tên: "Ken và Marie Old."
Tôi nâng sách lên ngực, cảm tạ Chúa vì những người bạn tốt. Sau đó tôi mở sách ra và mắt tôi bị thu hút vào một trang với những hàng chữ như nổi bật lên: Ta sẽ phân tán họ khắp nơi…
Lúc bấy giờ ý nghĩa của những chữ ấy là một bí ẩn đối với tôi.

|