Chương 9: SỰ TẨY CHAY
iều đó có nghĩa gì với sự bỏ đạo này? Bốn người đầy tớ nghỉ việc! Trong một thành phố như ở Wah, nơi rất khó tìm việc, quyết định của họ thật khó hiểu.
Dĩ nhiên đó là sự sợ hãi. Ông Manzur lo sợ vì tôi bảo ông lấy cho tôi cuốn Kinh Thánh và chở tôi đến nhà của các người truyền giáo. Ba người đầy tớ Kitô Giáo khác chắc biết được sự lo sợ của ông. Chắc là họ nghe được tiếng sôi sục của ngọn núi lửa sắp bùng nổ không lâu và không muốn bị kẹt giữa lớp phún thạch.
Nhưng còn nhỏ Raisham, người đầy tớ Kitô Giáo này đang chuẩn bị chải tóc cho tôi thì sao? Tôi có thể cảm thấy đôi tay nó đang run rẩy khi bắt đầu công việc.
Tôi hỏi, "Con thì sao?"
Nó bặm môi trong khi vừa tiếp tục chải tóc. Nó nhỏ nhẹ, "Có lẽ con không nên ở lại. Sẽ rất…"
"Cô đơn," tôi tiếp lời.
"Dạ phải," nó nuốt nước bọt, "và…"
"Và con sợ hãi. Này Raisham, nếu con bỏ đây, bác không trách con đâu. Con phải tự quyết định, cũng như bác vậy. Tuy nhiên nếu con ở lại, hãy nhớ rằng Đức Giêsu đã bảo chúng ta sẽ bị bách hại vì Người."
Raisham gật đầu, đôi mắt đen của nó long lanh. Nó lấy cái kẹp và tiếp tục làm tóc cho tôi. Nó nói thật buồn, "Con biết".
Cả ngày hôm đó Raisham thật im lặng. Sự lo âu của nó ảnh hưởng đến nhỏ Nur-jan là người trở nên im lặng cách kỳ lạ. Sáng hôm sau, khi thức giấc, thật khó nhọc để tôi vói tay giật chuông gọi đầy tớ. Bây giờ ai sẽ là người ở với tôi? Cánh cửa phòng mở ra từ từ và nhỏ Nur-jan bước vào. Sau đó, trong bóng tối của sáng sớm mùa đông, một bóng khác theo sau. Đó là Raisham!
Sau đó, tôi nói với nó là tôi rất cảm kích khi nó ở lại. Nó đỏ mặt. "Thưa bà," nó nhỏ nhẹ trả lời, "như bà phụng sự Thiên Chúa thì con cũng phục vụ bà."
Khi các đầy tớ người Kitô Giáo còn lại đã nghỉ việc, căn nhà trở nên trống vắng, một phần là vì tôi không kiếm người khác thay thế. Các nhu cầu của tôi bây giờ đơn giản hơn vì họ hàng không còn đến như trước nữa. Tôi quyết định không mướn thêm người Kitô Giáo trong một thời gian. Tôi tìm được một ông tài xế mới, người Hồi Giáo tên là Fazad và một người Hồi Giáo phụ bếp, ngoài ra không còn ai khác. Tôi thật vui khi thấy cháu Mahmud vẫn tiếp tục chơi đùa vui vẻ trong nhà hay ngoài sân. Tôi khuyến khích cháu mời các bạn ở trong làng đến chơi, và nó vui vẻ đồng ý. Hầu hết các trẻ này đều lớn tuổi hơn Mahmud chút đỉnh. Nhưng Mahmud dẫn đầu bọn trẻ một cách tự nhiên, tôi không nghĩ vì nó là chủ nhà, nhưng vì trong dòng máu nó có đến bảy trăm năm lãnh đạo của tổ tiên tôi.
Bao nhiều phần trong di sản này mà tôi sắp sửa đánh mất? Bao nhiêu liên hệ gia tộc của đứa trẻ này mà tôi không mong muốn? Mới hôm qua cháu lại hỏi nữa khi người anh bà con Karim đưa nó đi câu cá. Karim hứa sẽ dạy Mahmud bí quyết bắt cá hồi đang tung tăng giữa đám đá sỏi trong con suối ở khu vườn nhà tôi, được nối với sông Tahmra.
Mahmud hỏi, "Ngoại! Khi nào Karim tới nữa?"
Tôi nhìn nó trong ánh mắt sáng ngời, và tôi không nỡ tâm nói rằng bạn câu cá của nó sẽ không đến nữa. Mahmud có thể không bị Phúc Âm thu hút như tôi. Tôi đọc các chuyện Phúc Âm cho cháu nghe trước khi đi ngủ, mà nó rất thích đến độ tôi phải đổi giờ sớm hơn, 7g30 thay vì 8g, để cháu có thêm giờ nghe chuyện. Nhưng có chuyện nào bằng đi câu cá. Và bạn bè. Vì càng ngày bạn của Mahmud càng ít đến chơi. Mahmud không thể hiểu điều này, và khi tôi cố gắng giải thích nó nhìn tôi hoang mang.
"Ngoại! Ngoại thương ai nhất, thương con hay thương Đức Giêsu?"
Tôi phải nói thế nào được! Nhất là ngay bây giờ cháu đang cô đơn. "Chúa phải trước chứ, Mahmud." Tôi nói thế và trích lời cảnh cáo của Người là trừ phi chúng ta đặt gia đình họ hàng sau Người thì chúng ta không thực sự thuộc về Người. Tôi nói, "Chúng ta phải đặt Chúa trước, ngay cả trước những người mà chúng ta yêu thương nhất."
Dường như Mahmud chấp nhận. Dường như nó lắng nghe khi tôi đọc Phúc Âm cho cháu. Có lần, sau khi tôi đọc câu này, "Hãy đến với tôi tất cả những ai nặng gánh và tôi sẽ cho nghỉ ngơi," tôi nghe cháu vừa mơ màng vừa nài xin: "Chúa ơi, con yêu Chúa và con sẽ đến với Chúa, nhưng… đừng cho con nghỉ ngơi. Con không thích nghỉ ngơi." Ngay cả cháu chắp tay cầu nguyện, nhưng tôi biết thật khó cho cháu ở một mình và thấy tôi cô đơn. Không một người bà con, bạn hữu hay quen biết rẽ vào đường Đại Thụ hướng về nhà tôi nữa; điện thoại cũng không còn reo nữa.
Sau đó lúc 3 giờ sáng, điện thoại đầu giường tôi reo vang. Tôi vói tay lấy điện thoại mà tim đập mạnh. Không ai gọi vào giờ này trừ khi có người trong gia tộc chết. Tôi nhấc ống nghe vào lúc đầu tôi chỉ nghe tiếng thở dồn dập. Sau đó ba tiếng vang lên như ném vào mặt tôi:
"Đồ bất trung. Đồ bất trung. Đồ bất trung."
Điện thoại cắt đứt. Tôi nằm ngửa trên giường. Đó là ai? Đó có phải là một trong những người cuồng tín mà các chú bác luôn cảnh cáo tôi? Họ có thể làm gì?
"Ôi lạy Chúa, Chúa biết con không sợ chết. Nhưng con chỉ là một người hèn nhát xấu xa. Con không thể chịu nổi đau khổ. Chúa biết con sợ muốn chết khi thấy cây kim của bác sĩ. Con xin Chúa giúp con có thể chịu đựng được đau khổ khi nó xảy đến." Nước mắt dàn dụa. "Lạy Chúa, con nghĩ con không đủ sức tử đạo. Con xin lỗi Chúa. Xin giúp con bước với Chúa qua những gì sẽ xảy đến."
Điều sẽ xảy ra đến là sự đe dọa, bức thư nặc danh. "Hãy biết cho rõ. Chỉ có một chữ để diễn tả ngươi thôi. Đó là đồ phản bội." Sau đó một lá thư khác và sau đó ít lâu lại một thư khác. Tất cả đều cảnh cáo. Tôi là một kẻ phản bội và tôi sẽ bị đối xử cách xứng đáng.
Vào một buổi chiều đầu hè năm 1967, khoảng sáu tháng sau khi tôi trở lại Kitô Giáo, tôi đứng trong vườn với một lá thư đó trong tay. Nó thật cay độc, gọi tôi bằng một tên tệ hơn đồ bất trung, là người dụ dỗ tín hữu. Lá thư viết, các người tín hữu đích thực sẽ đốt tôi như đốt chỗ hư thối khỏi một nhánh tốt lành.
Thiêu đốt tôi sao? Điều này không chỉ là một hình ảnh chứ? Tôi bước sâu hơn vào vườn, chung quanh có những bụi hoa tu-líp và dạ lan. Mùa xuân đã nở rộ sang mùa hè. Cây cối đã bừng nở trong vườn, và các cánh hoa trắng cuối cùng đang rụng từ các cây lê. Tôi xoay lưng và nhìn về căn nhà. "Chúng không dám đụng đến nhà mình?" Tôi thầm nhủ. Chúng không dám đốt Begum! Nhưng, như thể xác nhận rằng tôi không còn trông đợi ở sự bảo vệ của địa vị và giầu sang, một đầy tớ đến gặp tôi.
Nó nói, "Tướng Amar đang đợi gặp bà."
Tim tôi nhẩy nhổm. Tôi nhìn qua cổng vườn và đúng vậy, ở đó là chiếc xe quân đội mầu xanh xám quen thuộc. Tướng Amar là người bạn cũ của tôi trong những ngày ở quân ngũ. Trong Thế Chiến II, tôi phụ tá cho ông và giờ đây ông là một tướng cao cấp trong quân đội Pakistan. Chúng tôi từng liên lạc với nhau trong nhiều năm, nhất là khi chồng tôi là Tổng Trưởng Nội Vụ và làm việc gần với ông. Không lẽ ông cũng đến để lên án tôi?
Không lâu tôi nghe tiếng chân của ông lao xao trên lối đi đầy sỏi trong vườn khi đến gặp tôi, đôi giầy sạch bóng trong bộ quân phục mầu ka ki, quần đi ngựa và giầy da. Ông cầm tay tôi, nghiêng người và hôn tay. Sự e dè của tôi giảm đi; hiển nhiên ông không trong nhiệm vụ chiến đấu.
Ông nhìn tôi, đôi mắt ông lấp lánh hóm hỉnh. Như thông lệ, ông vào thẳng đề tài. "Có đúng với những gì người ta nói không?"
"Đúng," tôi trả lời.
"Điều gì khiến bà hành động như vậy?" ông kêu lên. "Bà tự đưa mình vào hoàn cảnh rất nguy hiểm! Tôi nghe đồn là nhiều người muốn giết bà!"
Tôi nhìn ông im lặng.
"Được rồi," ông vừa ngồi xuống băng ghế vừa nói. "Bà biết là tôi cũng như người anh của bà không?"
"Tôi hy vọng vậy."
"Và là một người anh, tôi cảm thấy có trách nhiệm bảo vệ bà."
"Tôi hy vọng vậy."
"Vậy, hãy nhớ rằng nhà tôi luôn luôn rộng mở đón tiếp bà."
Tôi mỉm cười. Đây là điều tử tế đầu tiên tôi được nghe.
"Nhưng," ông tiếp tục, "có điều bà phải biết. Đề nghị giúp đỡ đó chỉ là phần cá nhân." Ông vói tay cầm một nhánh hoa đưa lên mũi ngửi, sau đó xoay người về tôi, ông tiếp, "Một cách chính thức, tôi không thể làm gì nhiều cho bà."
"Tôi biết," Tôi cầm tay ông, chúng tôi đứng dậy, rảo bước qua hiên nhà vào bên trong. Khi sánh bước, tôi nói với ông nhiều điều không dễ dàng.
"Và chúng sẽ không dễ dàng hơn đâu," ông nói với kiểu cách đương nhiên là như thế. Sau đó, khi tôi đưa trà cho ông trong phòng khách, ông hỏi với nụ cười trêu chọc: "Bilquis, nói tôi nghe tại sao bà làm như vậy?"
Tôi giải thích những gì xảy ra và thấy ông lắng nghe cẩn thận. Thật bất thường! Ở đây, vô tình, tôi đang làm một điều mà các nhà truyền giáo thường gọi là làm chứng nhân. Tôi nói về Đức Kitô cho một người Hồi Giáo nghe, và là một sĩ quan cao cấp. Và ông lắng nghe chứ! Tôi không nghĩ là tôi đã ảnh hưởng đến ông chiều hôm đó nhưng ông có vẻ suy tư khoảng nửa giờ sau đó, khi ông từ biệt trong ánh nắng chiều, ông lại hôn tay tôi.
"Nhớ nhé, Bilquis," giọng ông khàn khàn, "bất cứ khi nào bà cần tôi giúp… bất cứ gì tôi có thể làm cho bà như một người bạn…"
"Cám ơn ông Amar," tôi trả lời.
Ông quay lưng, gót giầy gõ nhịp trên hành lang xa dần và khuất hẳn trong bóng tối của chiếc xe. Và cuộc viếng thăm cô độc, buồn bã lạ lùng đã chấm dứt. Tôi thầm nghĩ, "Không biết bao giờ mình sẽ gặp lại ông ta."
Lần đầu tiên trong thời gian bị tẩy chay, trong những lá thư và điện thoại nặc danh, trong những cảnh cáo của các người bạn cũ, tôi mới biết mình đang sống từng giờ phút. Trái với sự lo âu. Đó là sự chờ đợi xem Người sẽ cho phép tôi làm gì. Vì tôi tin rằng không có gì xảy ra mà không có sự cho phép của Người. Tỉ như, tôi biết áp lực đối với tôi sẽ ngày càng mãnh liệt. Nếu điều đó xảy ra vì Người đã cho phép và tôi phải tìm kiếm sự Hiện Diện của Người giữa những điều dường như thảm họa. Tôi sẽ sống từng giờ một, ở gần bên Người. Phải, đó là chìa khóa của tôi. Tìm cách bầu bạn với Người, để bất cứ gì, bất cứ lúc nào xảy ra, tôi vẫn ở trong vinh quang của Người.
Với áp lực gia đình ngày càng tăng, tôi có thể thông cảm với Vua Đavít khi trốn khỏi đứa con của ông là Absalom, ông đã hát thánh vịnh: "Nhưng ôi Thiên Chúa, Ngài là khiên thuẫn cho con; vinh dự của con…" (TV 3:3). Tôi hiểu vinh dự mà ông coi là phúc lành không thể tả, là niềm vui, và hạnh phúc của các thánh trên thiên đàng.
Áp lực của gia đình tôi vẫn là sự tẩy chay. Không một phần tử nào trong gia tộc đến nói chuyện, dù để khiển trách. Cũng lạ là không ai trong đám bạn cũ gọi điện thoại. Những cái nhìn khinh bỉ nơi phố xá vẫn tiếp tục. Bất cứ khi nào tôi để mình rơi vào sự cô độc, tôi cảm thấy vinh quang bắt đầu mờ đi, và ngay lập tức tôi nghĩ đến giây phút Đức Giêsu cũng cảm thấy cô đơn.
Điều đó giúp đỡ tôi rất nhiều. Nhưng tôi thấy, với hơi chút ngạc nhiên, là tôi thực sự cần một tình bạn. Tôi từng sống cách biệt nhưng giờ đây lại cần sự gần gũi. Ngay cả ông bà Old và Mitchell cũng không còn đến nhà tôi nữa. Vì để bảo vệ họ, tôi khuyên họ đừng đến thăm.
Một buổi chiều ảm đạm tôi thu mình trên giường đọc Kinh Thánh. Đó là cái lạnh bất thường vào đầu hè. Cơn gió mạnh đập phần phật vào cửa sổ. Khi bắt đầu đọc, tôi cảm thấy tay mình ấm áp và nhìn theo vệt nắng đổ trên cánh tay. Tôi nhìn ra cửa sổ ngay lúc mặt trời biến dạng sau các đám mây. Trong chỉ một phút, dường như Người đến với tôi và chạm vào tay tôi để an ủi.
Tôi ngước mắt lên, "Ôi lạy Chúa, con cô đơn quá; ngay cả đôi má con cũng héo khô vì thiếu trò chuyện. Hôm nay, xin Chúa gửi cho con ai đó để nói chuyện."
Vì đôi chút cảm thấy điều xin xỏ đó có vẻ con nít, tôi quay về với Kinh Thánh. Sau cùng, tôi có Người bầu bạn và điều đó đã đủ. Nhưng sau đó giây lát tôi nghe có tiếng động kỳ lạ trong nhà, kỳ lạ là vì từ lâu không có. Có tiếng người nói ở dưới nhà.
Tôi khoác áo vào và chạy vội ra hành lang để gặp nhỏ Nur-jan đang hụt hơi chạy về phía tôi. Nó hét lên, "Bà ơi, ông bà Old đang ở đây."
"Tạ ơn Chúa," tôi reo lên và hấp tấp gặp họ. Dĩ nhiên tôi đã từng thấy ông Ken và bà Mari trong nghi thức Chúa Nhật ở nhà họ, nhưng hôm nay thật khác biệt, một cuộc gặp gỡ giữa tuần. Bà Mari vội vã đến với tôi, cầm tay tôi bà nói: "Chúng tôi chỉ muốn gặp bà. Không có lý do gì khác ngoại trừ muốn ở với bà."
Cuộc thăm viếng chỉ có vậy. Khi nói chuyện tôi mới thấy mình sai lầm khi không mời người khác đến nhà. Sự kiêu hãnh khiến tôi không nhận ra các nhu cầu. Bỗng dưng tôi thấy có cảm hứng. Sao không mời mọi người đến nhà tôi để họp mặt ngày Chúa Nhật? Nhưng đó có phải là thêm dầu vào lửa không? Tôi cố dẹp bỏ ý nghĩ này nhưng không được. Ngay khi các bạn tôi sửa soạn ra về, tôi mau mắn nói:
"Ông bà có muốn đến đây tối Chúa Nhật không?"
Cả hai người nhìn tôi hơi chút sững sờ.
"Tôi muốn như vậy," vừa nói tôi vừa mở rộng cánh tay. "Vì căn nhà cổ này cần có chút sức sống."
Thế là được quyết định.
Tối hôm đó khi chuẩn bị nghỉ ngơi, tôi nghĩ thật tuyệt vời khi Chúa quan phòng cho chúng ta. Khi gia đình và bạn hữu tôi bị lấy đi khỏi, Người thay thế họ với chính gia đình và bạn hữu của Người. Tôi ngủ một giấc ngon lành và tỉnh dậy khi ánh mặt trời ấm áp đã len qua khung cửa. Tôi đứng dậy mở cửa sổ, say sưa trong làn gió nhẹ ùa vào. Trong hương thơm của đất tôi có thể ngửi thấy hơi thở ấm áp của mùa hè giờ đây đã tràn ngập.
Tôi không thể chờ đợi cho đến tối Chúa Nhật. Vào chiều thứ Bảy, căn nhà cổ xưa ấy đã đầy bông hoa; từng lầu, từng cửa sổ được chùi rửa cho đến lúc sạch bóng. Tôi gợi ý với nhỏ Raisham là nó có thể tham dự với chúng tôi nhưng nó hơi bối rối; nó chưa sẵn sàng cho một bước mạnh bạo như vậy và tôi không ép.
Sáng Chúa Nhật lẻn vào trong khi tôi cố giữ cháu Mahmud đừng nghịch trong phòng khách, rồi tôi căng lại tấm thảm Ba Tư, lúc nào tôi cũng sắp xếp lại các chậu hoa, và tìm tòi những vết bụi đây đó để lau chùi. Nhưng sau cùng tôi nghe tiếng mở cổng và tiếng xe lăn bánh vào nhà.
Tối hôm đó là tất cả những gì tôi trông đợi, với thánh ca và sự cầu nguyện và kể cho nhau nghe những gì Thiên Chúa đang thực hiện. Chỉ có mười hai người chúng tôi, cộng thêm Mahmud, ngồi thoải mái trong phòng khách.
Tối hôm đó cũng có một mục đích đặc biệt, mà tôi không ngờ. Đó là các bạn của tôi thực sự rất lo lắng cho tôi.
Bà Mari hỏi, "Bà có thêm thận trọng không?"
Tôi cười, "Tôi không thể làm gì nhiều. Nếu ai muốn hại tôi, chắc chắn họ sẽ tìm ra cách."
Ông Ken nhìn quanh phòng khách rồi qua cửa sổ lớn nhìn ra khu vườn. Ông nói: "Thực sự ở đây bà không được bảo vệ nhiều. Tôi không ngờ bà dễ bị nguy hiểm đến thế."
"Còn phòng ngủ của bà thì sao?" Bà Synnove hỏi. Mọi người cảm thấy nên xem xét các phòng, do đó mọi người chúng tôi lũ lượt kéo nhau đi. Ông Ken đặc biệt để ý đến các cửa sổ, nhìn xuống khu vườn; chỉ có tấm kính và mạng lưới chắn bảo vệ.
Ông lắc đầu. "Bà phải biết là thực sự không an toàn. Bà phải làm điều gì đó; thiết kế một lưới sắt kiên cố hơn chẳng hạn. Ai cũng có thể vào qua lối này."
Tôi nói ngày mai tôi sẽ coi lại.
Không biết có phải là óc tưởng tượng hay là vinh quang của Người phai nhạt chút đỉnh khi tôi hứa như vậy?
Sau cùng chúng tôi tạm biệt và tôi vui sướng nghỉ ngơi sau một thời gian khá lâu. Tuy nhiên, ngày hôm sau, khi tôi định gọi người thợ sắt trong làng, một lần nữa tôi lại cảm thấy vinh quang của Người mờ đi mau chóng. Tại sao vậy? Có phải vì tôi chuẩn bị một hành động chỉ vì lo sợ? Dường như mỗi lần tôi định gọi người thợ sắt thì tôi lại ngưng.
Và sau đó tôi biết lý do. Khi tiếng đồn khắp làng là tôi làm cửa sắt, mọi người sẽ biết là tôi đang lo sợ. Tôi có thể nghe người ta xì xào. "A! Nói cho cùng Kitô Giáo là loại tôn giáo gì. Khi bạn trở thành Kitô hữu, bạn trở nên sợ hãi?" Không. Tôi quyết định sẽ không làm cửa sắt.
Tối hôm đó tôi đi ngủ với sự tin tưởng rằng mình đã quyết định đúng. Tôi chìm vào giấc ngủ ngay lập tức nhưng tôi giật mình thức giấc vì tiếng động. Tôi ngồi dậy, hốt hoảng nhưng không sợ. Trước mặt tôi xuất hiện một hình ảnh ngoạn mục.
Qua các bức tường phòng, trong một phương cách siêu nhiên, tôi có thể thấy toàn thể khu vườn. Nó tràn ngập ánh sáng trắng. Tôi có thể thấy từng cây bông hồng, từng lá cây, từng ngọn cỏ, từng cái gai. Và cả khu vườn thật yên lặng. Trong tâm hồn, tôi nghe Chúa Cha nói, "Con làm đúng, Bilquis. Ta ở với con."
Từ từ ánh sáng mờ dần và căn phòng tối trở lại. Tôi bật đèn ngủ, giang tay lên cao và cảm tạ Chúa. "Ôi Cha ơi, làm sao con có thể cảm tạ Cha cho đủ? Cha quá lưu tâm đến từng người chúng con."
Sáng hôm sau tôi gọi tất cả các đầy tớ lại và nói với họ là từ giờ trở đi, họ có thể ngủ tại nhà họ nếu muốn. Chỉ có cháu Mahmud và tôi ngủ trong căn nhà lớn này. Các đầy tớ liếc mắt nhìn nhau, một số ngạc nhiên, một số vui vẻ, chỉ một hoặc hai người hoảng sợ. Nhưng tôi biết tối thiểu một điều đã được chu toàn. Quyết định chấm dứt bất cứ tư tưởng nào bảo vệ chính mình. Và với quyết định đó, sự vinh quang lại đến và ở trong thời gian lâu hơn thường lệ. Có lẽ điều này cần cho các biến cố sắp xảy đến.
Một sáng kia khi Raisham chải tóc cho tôi, nó nói: "Con nghe nói là đứa con trai của dì Karim đã từ trần."
Tôi nhỏm đứng dậy và nhìn nó nghi ngờ. Tôi há hốc, "Không có đâu." Không thể là Karim, người sẽ đưa cháu Mahmud đi câu! Nó là một trong những đứa tôi thích! Điều gì đã xảy ra? Tại sao tôi phải tìm hiểu cái chết của Karim qua các đầy tớ! Với ý chí sắt thép tôi tự chế ngự và ngồi xuống ghế để Raisham có thể tiếp tục công việc. Nhưng tâm trí tôi rối bời. Đây có thể là tin đồn, tôi nghĩ vậy. Raisham có thể lộn tên. Tim tôi hơi rộn rã. Sau này, tôi yêu cầu một bà lớn tuổi xuống làng tìm hiểu. Một giờ sau, bà trở lại, buồn bã.
Bà nói, "Rất tiếc, thưa bà, đó là sự thật. Nó chết tối qua vì đau tim và hôm nay là đám tang."
Người đầy tớ nói, dì của tôi biết tôi mến Karim là chừng nào, nên muốn đặc biệt "báo tin cho tôi biết là cháu đã từ trần." Nhưng không ai tuân theo lời ao ước của dì.
Sau đó tôi ngồi ở cửa sổ trầm ngâm. Tôi đã bị tách biệt khỏi mọi sinh hoạt trong gia tộc đã sáu tháng, nhưng chưa bao giờ sự tẩy chay làm tôi đau đớn như bây giờ.
Vừa ngồi ghế đong đưa, tôi vừa cầu nguyện xin Chúa giúp đỡ và, như thường lệ, luôn luôn sự giúp đỡ xảy đến. Lần này, như thể tấm áo choàng ấm áp choàng lên vai tôi. Và trong tâm tình đó một kế hoạch hành động bất thường xảy ra. Ý tưởng này làm tôi bàng hoàng. Nó quá mạnh mẽ đến độ tôi biết chắc rằng nó xuất phát từ Thiên Chúa.

|