"NƠI TÔI GIEO, NGƯỜI KHÁC SẼ GẶT"

LEO KNOWLES

V

ào một buổi sáng tháng Mười 1886, một thanh niên đẹp trai người Pháp đến nhà thờ Thánh Augustin ở Ba Lê ngay khi Thánh Lễ chín giờ sáng vừa bắt đầu. Anh đi vào tòa giải tội của Cha Tu Viện Trưởng Huvelin.

"Thưa Cha, đã lâu con không xưng tội," anh cho biết. "Con đã mất đức tin từ lâu."

"Vậy thì cha làm gì được cho con?" Tiếng nói sau bức màn có vẻ nghiêm nghị nhưng trầm lặng.

"Xin Cha dậy bảo con. Con muốn tin."

"Hãy quỳ xuống và xưng tội," vị linh mục ra lệnh.

"Nhưng, thưa Cha. Có lẽ Cha không hiểu..."

"Đừng lý luận nhiều. Hãy làm như cha đã bảo."

Trong sự sửng sốt, người thanh niên thốt ra những tội mà anh có thể nhớ được. Sau khi ban phép xá giải, vị linh mục hỏi: "Con có giữ chay không?"

"Dạ có."

"Tốt lắm. Hãy ra chịu lễ." Người hối nhân, một cựu sĩ quan quân đội, biết thế nào là mệnh lệnh. Thật kinh ngạc, lần đầu tiên anh bước đến bàn thờ sau mười hai năm.

Trong nhà thờ Thánh Augustin vẫn còn một tấm biển nhỏ để ghi nhớ buổi sáng xa xưa đó khi Charles de Foucauld trở về với Giáo Hội. Tấm biển ấy cũng cho biết, nhiều năm sau, Charles đã dâng Thánh Lễ ở đây với tư cách là một linh mục.

Như nhiều người biết, hầu hết cuộc đời của Charles không phải ở Ba Lê nhưng ở sa mạc Sahara. Khi là một nhà truyền giáo, ngài không thành công: Chỉ có một người trở lại đạo. Ngài cố gắng thành lập một tu hội và hoàn toàn thất bại-người đệ tử duy nhất cũng bỏ đi. Khi ngài từ trần như một vị tử đạo vào năm 1916, tin tức ấy cũng chẳng khuấy động gì. Mới nghe qua, cái chết của ngài dường như không cần thiết, ngay cả có vẻ khôi hài. Người cháu của ngài, một viên tướng, nói về ngài như một người điên.

Tuy nhiên, năm mươi năm sau đó, trong thông điệp Populorum Progressio, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã coi Cha Charles de Foucauld như một tấm gương cho thế giới: một người đã sống Phúc Âm theo nghĩa đen, đã dành được cho mình một danh hiệu mà ngài tự xưng--Người Anh Em của Tất Cả.

Charles Eugene, Tử Tước "de Foucauld", sinh ở thành phố cổ kính xinh đẹp Strasbourg vào ngày 15 tháng Chín, 1858. Khi cậu lên sáu, hai ông bà thân sinh từ trần cách nhau có vài tháng. Tuy nhiên, chính cậu và cô em gái, Marie, có được thời thơ ấu hạnh phúc nhờ sự chăm sóc của ông ngoại bẩy mươi mốt tuổi, Đại Tá "de Morlet".

Charles là một đứa trẻ dễ thương, vui tươi với một óc tưởng tượng dồi dào và bướng bỉnh. Ông ngoại, tuy là một quân nhân, nhưng vì thương các cháu nên kỷ luật lỏng lẻo. Không bao lâu, Charles biết cách ăn vạ để có được điều mình muốn. "Thấy nó khóc tôi lại nhớ đứa con gái," ông ngoại thở dài và mềm lòng. Charles không chỉ bướng bỉnh nhưng còn tham lam. Trong những buổi liên hoan, Charles thường cuỗm cả một dĩa bánh đầy trước khi tụi con nít có cơ hội.

Khi lên mười một tuổi, cậu bé ương ngạnh, tham lam này được đưa về sống với người bà con, Marie Moitessier. Marie lớn hơn cậu tám tuổi, là một thiếu nữ xinh đẹp có đời sống tinh thần sâu đậm và đặc biệt sùng kính Thánh Tâm Chúa. Vào những ngày lễ nghỉ, Marie thường đưa hai người đi bộ, giống như cha của cậu thường làm trước khi ông từ trần vì bệnh lao. Sự đạo đức của Marie làm Charles nhớ đến mẹ cậu, là người dậy cậu đọc kinh.

Khi Charles ở tuổi trung học, cậu bắt đầu mất đức tin, Marie không la mắng hay quấy rầy ngay cả khi cậu lợi dụng các cô gái vì tính đa tình của mình. Khi mười bẩy tuổi, theo lời tự thuật, Charles là một người "rất ích kỷ, tự phụ, nguội lạnh, thường làm điều xấu xa." Trong khi cô em Marie, bây giờ là Nữ Tử Tước "de Bondy", vẫn dễ thương và phấn khởi như xưa.

Charles rất cần đến tình cảm của Marie Moitessier, vì anh hoàn toàn bất mãn với trường nội trú của các cha dòng Tên. Kỷ luật thì chặt chẽ và công việc thì khó khăn; hằng ngày phải thức dậy từ 4g30 sáng. Charles, không lười cũng không dốt, anh nghỉ học làm reo, cốt để bị đuổi khỏi trường. Trong khi đó, anh tự khuây khỏa với bánh ngọt và lên ký một cách đáng sợ. Vào tháng Ba 1876, các cha dòng Tên không chịu đựng nổi nữa. Charles bị đuổi về.

Tại trường quân đội Saint Cyr, lúc đầu anh rất chăm chỉ, nhưng cái chết của ông ngoại vào tháng Hai 1879 dường như làm anh mất quân bình, và việc học của anh sa sút đáng kể. Tuy nhiên, anh ra trường với chức thiếu úy và tiếp tục theo học kỵ binh ở Saumur. Ở đây, vào ngày sinh nhật thứ hai mươi, anh được thừa hưởng một gia tài kếch sù của ông ngoại.

Sự tiêu pha phung phí đã khiến anh trở nên đầu mối câu chuyện của cả phố. Mỗi đêm anh ăn uống thỏa thuê tại các nhà hàng sang trọng. Anh mở các buổi liên hoan bừa bãi cho chúng bạn. Anh thường lui tới các tiệm cắt tóc, tiệm đóng giầy và tiệm may nổi tiếng nhất phố. Khi đãi khách, anh thuê tất cả các xe ngựa trong phố nguyên một buổi tối, ra lệnh cho họ đi vòng vòng cho đến khi anh cần.

Dĩ nhiên, cũng có nhiều phụ nữ. "Tôi chỉ thuê có một ngày, chứ không phải một tháng," anh phũ phàng nói sự thật với một cô nhân tình.

Anh bắt đầu có những trò tinh nghịch. Có một lần anh bị bắt giữ vì vào một nhà hàng ăn và đeo râu giả khiến viên quản lý tưởng là cướp.

Một sự tự do phóng túng khác giờ đây có vẻ hiển nhiên hơn. Một sáng kia người ta không thấy anh ở trường. Khi nhiều ngày trôi qua mà không thấy bóng dáng anh đâu, cảnh sát phải đi tìm. Sau gần một tháng, người ta thấy anh lang thang trên đường làng trong y phục rách rưới của người ăn xin.

"Tôi chán ngấy sự xa hoa và thoải mái," anh giải thích. "Tôi muốn cảm được thế nào là nghèo."

Sau khi tốt nghiệp trường kỵ binh Saumur với hạng tám mươi bẩy trong lớp tám mươi bẩy người, Charles lui về Pont-à-Mousson, gần Nancy. Ở đây anh xây một căn nhà và sống với một phụ nữ thường được gọi là Mimi.

Quân đội không chống đối gì việc anh có tình nhân, nhưng khi đơn vị anh phải trấn đóng ở Algêri và Charles tìm cách đem theo cô tình nhân như là Nữ Tử Tước "de Foucauld" thì nhà cầm quyền phải ra tay. Anh nhận được lệnh tối hậu: Phải bỏ Mimi. Anh bào chữa, người phụ nữ này không thuộc thẩm quyền của quân đội. Vấn đề được đưa lên Ba Lê. Charles bị cho giải ngũ.

Không lâu sau đó anh mới nhận ra đó là một sai lầm, vì bây giờ Phi Châu đã ăn sâu vào máu của anh. Trong khi sống với Mimi ở hồ Geneva, anh tiếp tục nghiên cứu về lịch sử Ả Rập và Phi Châu. Càng tìm hiểu bao nhiêu, anh càng không thấy vui và áy náy. Sau cùng, anh phải từ giã Mimi và xin tái ngũ.

Giờ đây anh không còn là một dân chơi lười biếng, tham lam nữa. Trong tám tháng, người sĩ quan trẻ tuổi này đã chiến đấu một cách can đảm và khôn khéo với các phiến loạn ở Nam Oran. Tuy nhiên, khi cuộc chiến chấm dứt, anh thấy không thể chịu nổi sự nhàm chán của nơi đồn trú.

Khi anh bị từ chối một chỗ trong quân đội viễn chinh đến Niger, nét bướng bỉnh của anh một lần nữa lại xuất hiện, nhưng lần này có kết quả tốt đẹp. Anh sẽ thám hiểm Marốc, một lãnh thổ rộng lớn nhưng lúc bấy giờ ít người biết đến và sự quan hệ với nước Pháp có nhiều khó khăn.

Để thám hiểm với tên thật của mình thì chẳng khác gì đi vào chỗ chết, vì một Kitô Hữu người Âu Châu chắc chắn sẽ bị coi là gián điệp. Anh sẽ phải ngụy trang-nhưng dưới hình thức gì? Anh không thể giả dạng là một người Hồi Giáo. Chỉ còn một cách: Anh sẽ đóng vai trò một người Do Thái. Anh hy vọng khi giả người Do Thái anh sẽ được dung thứ và lãng quên vì người Do Thái thường bị người Hồi Giáo khinh miệt, và vì thế họ thường không bị để ý nếu không cản đường họ.

Trong y phục của một giáo sĩ Đông Phương và tiếng Pháp bập bẹ, từ Algêri Charles lên đường trong chuyến đầu tiên của một sứ vụ vô cùng nguy hiểm. Người đồng hành và hướng dẫn anh là một giáo sĩ đích thực, ông ta biết ngõ ngách nhưng cũng thường hay than phiền và khóc lóc bất thường. Charles và ông ta cãi nhau thường xuyên và dữ dội.

Trên giấy tờ, Charles là Giáo Sĩ Joseph Aliman, một người sinh ở Nga và cũng hành nghề thuốc. Thật sự anh có mang theo thùng thuốc, nhưng anh còn mang theo một thùng với phong vũ biểu, kính lục phân, bản đồ và các dụng cụ khác. Vì Charles không chỉ đi thám hiểm; anh muốn được nổi tiếng là một nhà thám hiểm khoa học.

Về phương diện này, anh thành công đáng kể. Các bản đồ mà anh đã đo đạc chính xác là những bản đồ đầu tiên mà Tây Phương được nhìn thấy và đã giúp anh được huy chương vàng của tổ chức Geographie de Paris (Địa Lý Ba Lê). Sau này cuốn sách anh viết, Reconnaissance au Maroc (Thám Sát ở Maroc), được tán thưởng khắp Âu Châu-và kêå lại một câu chuyện thật hứng thú!

Trong cuộc thám du, vì nhiều lần đi vào vùng đất cấm, Charles bị nghi ngờ. Hơn bốn lần anh buộc phải thú nhận danh tính thật. Lần nào sự tiết lộ của anh cũng đáng tin cậy. Một tộc trưởng Ả Rập, tin rằng Charles là một gián điệp của Pháp, nhưng ông đã đối xử với anh như một thượng khách. Ông nghĩ điều đó sẽ có lợi cho ông nếu nước Pháp xâm lăng Marốc.

Tuy nhiên, hầu hết sự cải trang của Charles đều thành công. Có lần, trong khu chợ bụi bặm anh ngồi ăn bánh và trái ôliu, một nhóm sĩ quan Pháp đi ngang qua. Charles có biết một vài người trong đó. Một người chỉ tay vào anh và nói, "Coi cái tên Do Thái ăn trái ôliu kìa. Nó giống như một con khỉ."

Khi nào có thể, anh trú ngụ với các gia đình người Do Thái hay ngủ đêm trong một đền thờ. Khi đi qua sa mạc, anh phải trông nhờ đến các hướng dẫn viên người Ả Rập, họ tống tiền với những hăm dọa không cần che đậy. Trong một chuyến đi anh thực sự bị bắt và bị bóc lột, và trong hai ngày, Charles phải nghe họ bàn bạc với nhau không biết có nên cắt cổ anh hay không.

Sau khi trở về Algêri không lâu, Charles đến nhà Thiếu Tá Titre, một nhà địa lý xuất sắc của Pháp và gặp một thiếu nữ xinh đẹp. Cô ta hai mươi ba tuổi, nước da ngăm đen, hoạt bát và rất đẹp. Sau đó Charles cảm thấy yêu cô ta-hay tối thiểu là anh nghĩ như vậy. Sau đó không lâu họ đính hôn.

Hôn thê của Charles là một người rất đạo đức, dám hy sinh cả một tài sản của bà nội người Tin Lành, để có thể trở lại đạo Công Giáo. Charles nói với cô, "Khi chúng ta thành hôn, em có hoàn toàn tự do để theo đạo của em, nhưng đừng hy vọng anh tham dự. Anh không tin."

Thật vậy, giai đoạn hứa hôn không được bao lâu. Bà con của Charles phản đối rằng cô này thuộc giai cấp thấp kém trong xã hội: tên của cô ta không có tiểu từ của giới quý tộc. (Sau này, Charles bỏ cả chữ "de" trong tên của anh). Cô Marie de Bondy cũng góp phần phá vỡ sự tương giao ấy, tuy động lực của cô có thể khác biệt. Charles viết, "Anh cần được cứu thoát khỏi hôn nhân này, và em đã cứu anh."

Có thể nào một người bướng bỉnh như Charles lại nghe lời cô em nếu anh thực sự muốn tiến tới? Quả thật, bây giờ anh là một người rất chín chắn-như vị hôn thê xác nhận khi cô làm chứng trước cáo thỉnh viên vụ điều tra phong thánh cho Charles vào nhiều năm sau.

Cô tuyên bố, "Ở tuổi hai mươi lăm, chắc chắn anh ta không còn chút gì là trẻ con. Từ Marốc trở về anh là một người đứng đắn, nghiêm nghị hơn cả những người bốn mươi lăm tuổi. Anh biết thế nào là cuộc đời và, có thể nói, anh trở nên khôn ngoan."

Hiển nhiên Charles đã chấm dứt hôn ước vì những lo lắng trong lòng, tuy anh không bao giờ tiết lộ. Có phải anh đã cảm thấy những rung động đầu tiên về ơn gọi, tuy vẫn là một người vô thần? Vì các chuyến mạo hiểm Marốc không chỉ giúp anh thêm khôn ngoan, nhưng còn đem lại nhiều điều lớn lao hơn nữa: một cảm nhận càng gia tăng về tâm linh. Trong những chuyến đi nguy hiểm, anh đã nhìn thấy người Hồi Giáo, thật tận tụy với tôn giáo của họ, bỏ mọi sinh hoạt để cầu nguyện năm lần một ngày.

Thật lâu sau đó, anh viết, "Hồi giáo đã rung động tôi sâu xa. Nhìn thấy đức tin như vậy, nhìn thấy những người sống trong sự hiện diện liên tục của Thượng Đế, tôi mới thoáng hiện được điều gì đó có giá trị hơn, thực tế hơn là các công việc trần thế." Hơn thế nữa, anh đã từng sống như một người Do Thái giữa những người Do Thái, và anh sững sờ khi thấy sự trung thành với đức tin của Môsê bất chấp sự khinh miệt, như anh phải chia sẻ trong lớp áo giáo sĩ. Khi vào ngày Sabát, họ từ chối đi lại hay thi hành bất cứ việc gì, Charles thật điên tiết. Nhưng anh cũng cảm kích sâu xa.

Bất kể anh giải thích thế nào đi nữa, vị hôn thê cũng thật tan nát khi xa anh. Nhiều năm sau, vào năm 1913, họ có gặp nhau một lần trên đường phố Algêri. Bấy giờ cô đã lấy chồng, và anh là linh mục. Cô cho anh biết là cô không còn giữ đạo Công Giáo nữa. Biết rằng mình là nguyên do cho hành động ấy, anh cầu nguyện cho cô. Sau này, cô đã trở về với Giáo Hội.

Cô không bao giờ quên được Charles, không bao giờ quên được vết thương lòng vì mất anh. Cô nói với cáo thỉnh viên, "Anh ấy sẽ là một người chồng tuyệt hảo và cả đời tôi chỉ mong được có anh, và tôi yêu anh và sẽ yêu anh cho đến ngày tôi chết."

Cô thốt lên những lời ấy vào ngày sinh nhật thứ sáu mươi chín. Charles đã chết cách đó mười năm.

Sau khi việc đính hôn không thành, Charles trở về Pháp. Anh thuê một căn hộ ở Ba Lê trên đường Miromesnil, gần nhà thờ Thánh Augustin. Ở đây anh làm việc với sách vở, thỉnh thoảng đi bách bộ để vận động cơ thể. Khi cô em là Marie de Bondy đến Ba Lê, anh gặp cô thường xuyên. Càng gặp cô em bao nhiêu, Charles càng tự vấn lương tâm bấy nhiêu: "Nếu nó thật thông minh nhưng cũng thật đạo đức thì nói cho cùng tôi có thấy mình dại dột hay không?"

Càng ngày anh càng thường đến nhà thờ Thánh Augustin hay các nhà thờ khác trong thủ đô. Không bao lâu, anh thì thầm: "Ôi lậy Chúa, nếu Ngài thực sự hiện diện, xin hãy cho con biết."

Anh được hẹn gặp Tu Viện Trưởng Huvelin, không chỉ vì ngài ở gần đó, nhưng ngài còn là cha linh hướng của Marie, và chính Marie đã đưa hai người đến với nhau. Vị linh mục đặc biệt này, một sử gia sáng chói và một học giả kinh điển, đã từ chối công việc dậy học để lãnh nhận một nhiệm vụ không được trả lương ở nhà thờ Thánh Augustin. Hàng ngày ngài ngồi trong phòng để tiếp người giầu sang và danh tiếng, người nghèo và kẻ bị áp bức với sự tử tế giống nhau và đáp ứng nhu cầu của mọi người như nhau.

Ngài có ơn hiểu thấu linh hồn chỉ với cái nhìn thoáng qua. Vì vậy ngài mới có thái độ mạnh bạo vào buổi sáng tháng Mười năm đó khi Charles xuất hiện ở tòa giải tội-và qủa thật đó là ý kiến độc đáo! Từ giờ trở đi, Tu Viện Trưởng Huvelin sẽ hướng dẫn Charles như ngài từng hướng dẫn biết bao người khác.

Với cô em Marie, Charles bắt đầu thường đi chầu. Không bao lâu anh cũng sùng kính Thánh Thể cách sâu xa.

Dưới ảnh hưởng của Cha Huvelin, Charles làm cuộc hành hương Đất Thánh, đến nơi vào tháng Mười Hai khi Giêrusalem chìm trong lớp tuyết. Trong lòng, anh càng tin tưởng rằng phải tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa. Trước đó, với cô Marie và gia đình cô, anh đã đến thăm Đan Viện Xitô Fontgombaut và cảm kích sâu xa khi thấy một đan sĩ mặc áo rách rưới. Trước đó từ lâu, khi ở Saumur, dường như sự nghèo nàn bỗng dưng hấp dẫn anh-quá hấp dẫn đến độ anh đã bỏ đi thật xa để nếm thử. Giờ đây nó bắt đầu xuất hiện như một lý tưởng.

Sau này anh đã viết thư cho Marie, "Chính em đã đưa anh đến dòng Xitô", nhưng quyết định nhập dòng của anh không quá vội vã. Mãi cho đến tháng Mười Hai 1889 anh mới quyết định. Vào ngày 15 tháng Giêng, 1890, lúc bẩy giờ tối, anh từ giã Ba Lê để đến Tu Viện Đức Bà Sương Tuyết ở Ardeche.

Sáng hôm ấy anh đến từ giã Cha Huvelin, ngài đang đau. Thời gian còn lại anh ở với Marie. Khi từ giã, anh đã khóc.

Charles là một mẫu gương của dòng Xitô. Ngay trong những người thánh thiện đó, anh nổi bật. Anh thi hành những công việc tầm thường nhất với sự phấn khởi và sẵn sàng. Anh làm việc đền tội nghiêm nhặt hơn những gì Quy Luật đòi hỏi. Ngay cả vào Chúa Nhật Phục Sinh, người nổi tiếng tham ăn ở Saumur cũng không muốn gì hơn là bánh thô và nước lạnh. Anh chỉ ngủ hai giờ một đêm.

Tuy nhiên anh không ở lại đó. Lúc đầu ở tu viện Đức Bà Sương Tuyết, sau đến một đan viện khác nghèo khổ hơn ở Cheikle, Syria, trong lòng anh càng tin tưởng rằng mình không phải là một đan sĩ Xitô. Anh thấy Quy Luật thì hạn hẹp và bó buộc. Anh muốn có lâu giờ để cầu nguyện bằng tâm trí hơn là hát kinh nhật tụng trong nhóm, và anh cảm thấy khó chịu khi phải thay đổi công việc luôn.

Trên tất cả, điều không thể tin được là anh nghĩ rằng các đan sĩ Xitô sống quá sung sướng. Anh chống đối sự phân biệt giữa trợ sĩ và đan sĩ, và anh thấy chướng tai gai mắt khi đan viện thuê mướn người lao động ở ngoài. Anh so sánh đời sống đan viện với đời sống của những nông dân gần đó và thấy rằng, dù nghèo nhưng các đan sĩ vẫn còn khá hơn. Điều đó xâm chiếm anh vào một đêm khi ngồi săn sóc cho một công nhân đang hấp hối. Đan viện có thể là một tổng hợp của các lều tranh, thức ăn có thể ít ỏi, nhưng tối thiểu các đan sĩ có thể biết được là ngày mai có cái gì. Họ không phải chia sẻ sự lo âu, sự bất an và cái nghèo thực sự.

Vào lúc Charles được tháo gỡ khỏi các lời thề, anh được gửi sang Rôma để học thêm về thần học. Các bề trên, bất kể sự miễn cưỡng của anh, họ muốn anh chịu chức.

Các đan sĩ Xitô rất tiếc khi thấy anh ra đi, tuy một số người nhận thấy nơi anh một loại thánh thiện đặc biệt, không phải là loại mà Quy Luật có thể tạo nên. "Anh thật may mắn chừng nào khi được ban cho một ơn gọi độc đáo như vậy!" vị đan sĩ tổng quyền đã nói với anh khi từ giã.

Trong ba năm tiếp đó Charles ở Đất Thánh, Nagiarét và Giêrusalem. Mỗi nơi, Charles sống bên cạnh tu viện Thánh Clara Khó Nghèo, làm những công việc linh tinh cho các nữ tu. Ở Nagiarét anh sơn tượng để các nữ tu bán cho du khách.

Anh đến Palestin với một y phục mà anh rất thích, giống như nông dân địa phương. Y phục ấy gây nên nhiều thích thú cho các trẻ em Ả Rập, chúng thường lấy đá ném anh bất cứ khi nào anh xuất hiện. Đổi lại, anh cho chúng đồ ngọt và các loại hạt, và vui vẻ dâng sự sỉ nhục đó lên cho Chúa.

Một trong những ông cậu của anh là linh mục, và bị giết trong cuộc Cách Mạng Pháp. Khi còn nhỏ, đôi khi Charles mơ được chết vì đức tin. Giờ đây anh viết một suy tư kỳ lạ có tính cách tiên tri. "Hãy nghĩ rằng bạn phải chết như một vị tử đạo, bị lột hết mọi thứ, bị căng thây trần truồng trên mặt đất và không còn dáng vẻ con người, với đầy thương tích, bị giết một cách hung bạo và đau đớn-mong sao điều đó xảy ra hôm nay."

Trong khi đó anh mơ ước thành lập một loại dòng tu, là nơi các hội viên sống với nhau trong sự đơn sơ của Phúc Âm, sẵn sàng tiếp rước và giúp đỡ bất cứ ai cần.

Khi ngọn núi nơi Đức Giêsu giảng Tám Mối Phúc được rao bán, anh Charles tìm cách mua lại để làm trụ sở cho dòng tu mới của anh. Nhưng điều đó không bao giờ thành; tên trung gian lật lọng đã lấy hết tiền bạc của anh.

Cho đến bấy giờ, tuy các nữ tu thường gọi là Anh Charles, dòng của anh chỉ có một mình anh. Đương nhiên, người tu sĩ khổ hạnh nhưng khéo léo chân tay này đã gây nên nhiều sự tò mò. Không bao lâu, tiếng đồn bắt đầu lan tràn.

Một thầy trợ sĩ dòng Don Bosco nhận xét, "Thưa ông, người ta nói ông là một tử tước người Pháp."

"Trước đây tôi là một quân nhân," Anh Charles trả lời một cách vô thưởng vô phạt về dòng máu của mình.

Để chứng tỏ vẫn là một quân nhân, một tối kia ở Giêrusalem có ba tên du côn người Ý đến tu viện và đòi hỏi các thức ăn mà các nữ tu nghèo khổ này không thể nào cung cấp nổi. Khi chúng bắt đầu giở trò tục tĩu thì Anh Charles xuất hiện trong quân phục kỵ binh Hoa Kỳ thẳng nếp.

"Mấy đứa, ra khỏi đây!" anh cộc lốc ra lệnh.

Các tên côn đồ còn do dự thì Anh Charles đã nắm một tên to lớn nhất và ném ra khỏi cổng cũng như hai tên đồng bọn.

"Xin lỗi mấy chị," anh nói trước sự kinh ngạc của các nữ tu. "Điều đó không có giáo dục lắm."

Anh phải lên tu viện ở Giêrusalem vì bà bề trên, cũng có thẩm quyền ở tu viện Nagiarét, muốn thấy tận mắt Anh Charles. Bà bán tín bán nghi rằng anh chỉ là thứ giả hình, nhưng khi gặp mặt anh bà thấy ngay đây không phải là một người vô công rỗi nghề tốt bụng, ăn bám các nữ tu, nhưng thực sự là một người có các đức tính khác thường.

Thật vậy, bà đã đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đời anh, vì chính bà, hơn cả Marie hay Cha Huvelin, đã thúc giục và khuyến khích Charles trở thành một linh mục.

Bà nói với anh, "Tôi rất hiểu anh muốn ở một nơi thấp kém nhất. Tôi hiểu tại sao anh lại rút lui khỏi một vinh dự của chức linh mục. Tuy nhiên, chính khi làm linh mục anh mới có thể sử dụng các ơn mà Chúa đã ban cho anh. Thật rõ ràng đây là ơn gọi của anh-và nói cho cùng, anh đã gần hoàn tất việc học."

Vào tháng Tám 1900, anh về lại nước Pháp. Mười tháng sau, vào ngày 1 tháng Sáu 1901, anh được chịu chức.

Ý tưởng đầu tiên là anh trở lại Đất Thánh, nơi anh đã sống hạnh phúc trong ba năm. Nhưng Đất Thánh thì đầy các linh mục. Chắc chắn rằng đời sống ở Nagiarét thì có thể sống ở bất cứ đâu chứ?

Ở Marốc, một quốc gia to lớn như nước Pháp, lại không có một linh mục; trong toàn vùng Sahara, lớn gấp bẩy lần, chỉ có một dúm các nhà truyền giáo. Chính qua gương mẫu của người Hồi Giáo và Do Thái Giáo mà Anh Charles đã trở về với Thiên Chúa. Giờ đây, anh quyết định sẽ sống cuộc đời còn lại giữa những người không phải là Kiô Hữu, chia sẻ sự nghèo khó với họ và rao giảng về Phúc Âm bằng đời sống.

Sau khi đến đó ít lâu, anh viết cho Marie, "Tôi muốn mọi người ở đây, Kitô Hữu, Hồi Giáo, Do Thái Giáo, dân ngoại coi tôi như một người anh em, một anh em của mọi người. "Ở đây" có nghĩa là Beni Abbès, một ốc đảo ở phía bắc Algêri gần biên giới Marốc.

Được sự giúp đỡ của các binh lính trú đóng gần đó, anh xây một tu viện khổ hạnh làm bằng bùn và thân cây cọ; một dẫy nhà thấp tè mầu nâu đỏ bao quanh một mảnh vườn, với các phòng nhỏ cho các tu sĩ là những người không bao giờ đặt chân đến.

Anh viết, "Họ gọi nhà này là nhà 'huynh đệ'-tiếng Ả Rập là khousa-và tôi rất thích. Họ biết rằng người nghèo sẽ có một anh em ở đây-không chỉ người nghèo mà tất cả mọi người."

Là anh em của mọi người quả thật là công việc mệt mỏi, Charles mau chóng thấy điều đó. Từ sáng sớm trở đi, một chuỗi những quân nhân, nô lệ, du khách, và nông dân đến và đi. Mọi người đều tìm kiếm sự giúp đỡ của đạo sĩ Kitô Giáo này, một người thánh thiện kỳ dị với khuôn mặt hiền từ, khắc khổ với áo chùng kiểu Ả Rập có in hình trái tim và thập tự đỏ. Với các quân nhân, anh sẽ dâng Thánh Lễ bất cứ khi nào họ yêu cầu, ngay nửa đêm hay lúc bốn giờ sáng. Anh hy vọng sống một cuộc đời cầu nguyện và chiêm niệm, nhưng ở đây anh lại bận rộn như một cha sở ở thành phố lớn. Tuy nhiên anh đã cầu nguyện, một cách liên lỉ.

Anh Charles nổi giận khi các nhà cầm quyền thuộc địa Pháp đã cho phép việc buôn bán nô lệ bành trướng không hạn chế. Trong toàn quốc Algêri, nhân danh tự do, bình đẳng và huynh đệ, đàn ông đàn bà bị xiềng xích và trẻ em bị bắt cóc để bán làm nô lệ. Anh Charles nghĩ rằng Giáo Hội phải lên tiếng chống đối sự dã man ấy, như Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã thi hành ở Rôma. Nhưng các giám mục Pháp không muốn chọc tức một chính phủ bài giáo sĩ, họ đã giữ im lặng.

Im lặng không phải là kiểu cách của Anh Charles. Anh tuyên bố, "Một trong những điều chúng ta nợ Thiên Chúa là không bao giờ sợ hãi." Với anh Đức Giêsu là "Thầy của những điều bất khả."

Bất cứ khi nào người nô lệ muốn anh giúp đỡ, không bao giờ anh xua đuổi họ, dù việc cung cấp nơi ăn ở là một điều rất khó khăn. Anh tìm cách phóng thích một số người bằng cách chuộc họ qua số tiền được gia đình cung cấp. Anh cũng chăm sóc những nô lệ, vì quá già, được trả tự do mà không ai giúp đỡ.

Tuy là một vị thần nghiệm, sống hiệp nhất với Thiên Chúa, Anh Charles vẫn là một con người giữa mọi người. Được mời dự tiệc với các sĩ quan, anh không chút nao núng khi nghe các bản nhạc đời được phát ra từ các máy hát đĩa. Nguyên Soái Lyavtey, một bạn cũ của Anh Charles, cũng là khách danh dự hôm ấy, sau này kể lại, "Tôi thầm nghĩ, 'Chắc ông ấy sẽ bỏ ra ngoài', nhưng không như vậy. Ông ấy thực sự cười ngất!"

Ngày hôm sau, vị nguyên soái này và một số sĩ quan đến tham dự Thánh Lễ trong tu viện khổ hạnh. Ông cho biết cảm tưởng thẳng thắn của một quân nhân.

"Một căn nhà thật tồi tàn! Nguyện đường chỉ là cái hành lang với các cột được bọc bằng cây sậy! Bàn thờ là một tấm gỗ trơn! Chân nến làm bằng thiếc và chỉ có đồ trang hoàng là hình Đức Kitô treo trên tấm vải trúc bâu! Và chân chúng tôi ngập trong cát. Chắc chắn rằng chưa bao giờ tôi được dự Thánh Lễ nào như của Cha "de Foucauld". Tôi nghĩ mình đang ở giữa các Tu Phụ Sa Mạc ở Ai Cập. Đối với tôi, đó luôn luôn là một trong những cảm nghiệm vĩ đại nhất trong đời."

Theo bản năng, vị sĩ quan già nua này hiểu được tại sao Anh Charles lại sống như vậy. Không phải ai cũng có óc nhận xét. Không phải chỉ một lần Charles phải chịu đựng những nhạo cười của các binh lính và sĩ quan vô thần.

Vào năm 1905 một sĩ quan bạn khác, Tướng Laperrine, yêu cầu Charles di chuyển xuống phía nam Algêri để làm việc giữa những người Tuareg trong vùng Hoggar. Người Tuareg không phải là Ả Rập nhưng là Berber, nước da sáng hơn và có ngôn ngữ riêng, đến từ Phoenicia.

Anh Charles do dự khá lâu, và anh quyết định ra đi sau khi hội ý với Cha Huvelin. Anh biết có những nguy hiểm, vì nhiều người Pháp đã bị giết bởi các chiến sĩ Tuareg, trong số đó có một người bạn anh khi còn ở Saint Cyr và Saumur. Nếu cảm thấy bất cứ gì sợ hãi, anh dập tắt nó ngay lập tức. Trong sách anh viết, sự sợ hãi là một dấu chỉ chắc chắn về một nhiệm vụ phải thi hành.

Bất kể sự tự hào về lịch sử và tác phong đàng hoàng của họ, người Tuareg nghèo sơ xác, họ đau khổ vì bệnh tật và có khuynh hướng giết con ngay tự lúc mới sinh nếu không muốn nuôi chúng. Một số phong tục khác của họ, tuy không độc ác nhưng thật không thích hợp. Các phụ nữ Tuareg không bao giờ tắm rửa vì họ nghĩ điều đó nguy hại đến sức khỏe. Anh Charles quyết định rằng, một khi có thể, phụ nữ Pháp sẽ dậy các bà Tuareg biết dùng xà phòng và nước.

Tu viện khổ hạnh mới của anh thì ở Tamanrasset, một ốc đảo gần với dẫy núi Hoggar. Ở đây, cũng như lúc trước, anh tiếp đón tất cả mọi người. Tuy nhiên anh lo liệu để có nhiều giờ trước Thánh Thể trong nhà nguyện nhỏ xíu của anh.

Hình ảnh sống động về cuộc đời Anh Charles là từ Thầy Micae, người đệ tử duy nhất anh tuyển mộ được. Thầy này là con của một ngư dân người Anh, lúc đầu là học sinh của các linh mục thừa sai bên Phi Châu, sau đó là một người lính.

Sau khi đánh thức Micae vào mờ sáng, Anh Charles rung chuông gọi đọc kinh trong nhà nguyện. Vì cả hai đi ngủ mà quần áo vẫn không thay đổi, nên họ không mất nhiều thì giờ chuẩn bị. Những việc đạo đức bắt đầu với một kinh dài bằng tiếng Pháp và tiếng La Tinh, sau đó có chầu Mình Thánh, Thánh Lễ và thinh lặng cầu nguyện. Chính Anh Charles thì không bao giờ ăn trước mười một giờ, nhưng lúc bẩy giờ anh sai Micae đi ăn điểm tâm.

Công việc bắt đầu lúc chín giờ. Anh Charles tự giam mình trong phòng áo nhỏ xíu, là nơi anh phải đối phó với việc trao đổi thư từ và thực hiện cuốn tự điển Tuareg-Pháp. Công việc độc đáo này phải mất mười năm mới hoàn tất và đem lại cho Anh Charles tiếng tăm của một học giả dù anh không muốn. Trong khi Charles viết lách, Micae đọc sách, đập trái chà là, xay bột giữa hai cục đá, và nướng bánh.

Trước khi ăn trưa, vào lúc mười một giờ, có việc đọc Tân Ước. Cả hai ngồi trên chiếu bên cạnh một cái nồi, dùng muỗng xúc thức ăn. Món ăn chính luôn luôn là cơm, đôi khi trộn với sữa đặc và thỉnh thoảng có thêm cà rốt hay xu hào. Món ăn tráng miệng, mà Micae rất thích, là một loại mứt làm bằng trái chà là trộn với bột và nước. Bữa ăn tối cũng rất giống như vậy, nhưng chỉ có một món.

Nhất định giữ cho nhu cầu ở mức tối thiểu, thay vì dùng giấy mới để viết thư, anh dùng phong bì cũ mà anh mở tung ra để dễ viết. "Bàn giấy" của anh là cái thùng đựng quần áo; vì liên tục cúi gằm xuống nên anh hơi bị gù lưng.

Khi Micae quyết định là sa mạc không phải là nơi cho mình, Anh Charles cũng không lấy làm tiếc. Anh nghĩ người trẻ này có phần nào thiếu thông minh, đó là điều có thể đúng và có thể sai. Có thể rằng đôi khi Anh Charles thiếu kiên nhẫn với người dưới, và chính Micae nhận xét rằng có thể anh cảm thấy khó chịu khi nhiều điều không xảy ra như mong muốn.

Do đó Micae sang dòng Thánh Brunô là nơi sau cùng anh tìm thấy ơn gọi, và Charles tuyệt vọng chờ đợi ai đó thế chỗ Micae. Một trong những điều buồn nhất được viết trong nhật ký là ngày Giáng Sinh 1907: "Không có Thánh Lễ, vì chỉ có một mình tôi." Giấy phép ở Rôma cho cử hành Thánh Lễ mà không có người giúp lễ hay giáo đoàn thì chưa gửi đến.

Tuy nhiên, sự cô độc là một yếu tố quan trọng trong ơn gọi của anh. "Người ta phải băng qua sa mạc và sống ở đó để nhận được ơn Chúa,"anh viết. "Chính ở đó mà người ta có thể từ bỏ tất cả những gì không thuộc về Chúa."

Dĩ nhiên, đây không phải là điều mới mẻ. Thánh Antôn ở Ai Cập và các đan sĩ đầu tiên đã đi tìm Chúa trong hoang dã từ nhiều thế kỷ trước. Ngày nay, các tiểu đệ và tiểu muội theo chân Anh Charles cũng phải tĩnh tâm một mình, trong nơi hoang vắng, như một phần của việc huấn luyện.

Thật dễ để tưởng rằng các linh hồn được chọn như Anh Charles, cách nào đó họ phục vụ Thiên Chúa dễ dàng hơn tất cả chúng ta; bất kể mọi cực nhọc, Anh Charles cách nào đó đã trải qua một ngày trong lờ mờ hạnh phúc. Thật vậy, bất kể một khởi đầu thật xúc động trong tòa giải tội của Cha Huvelin, sự hoán cải của Anh Charles là một tiến trình thật lâu, thật đau khổ từng bước một.

Có lần trong sa mạc, một sĩ quan đã khiển trách anh vì sự chay tịnh quá đáng.

Anh trả lời, "Bạn ơi, khi muốn viết lên tấm bảng điều gì đó, trước hết bạn phải lau sạch bảng ấy đã. Tôi quả quyết với bạn là tôi phải mất rất nhiều công sức để lau sạch tấm bảng của tôi."

Có thể và chắc chắn anh đã cảm thấy sự khô khan, khi Thiên Chúa dường như xa vắng. Có lẽ người vô thần cũ này đã nhớ đến những điều đó khi anh viết về đức tin.

"Hầu như đức tin là điều Thiên Chúa ca tụng và ban thưởng. Đôi khi Người ca ngợi đức ái, đôi khi sự khiêm tốn, nhưng ít lắm... Đức tin, tuy không phải là nhân đức cao vời nhất-đức ái ở vị trí đó-nhưng lại là điều quan trọng vì nó là căn bản của các nhân đức khác, kể cả đức ái. Nó cũng là nhân đức hiếm có nhất... Đức tin thực sự, một đức tin hứng khởi mọi hành động của con người, đức tin trong siêu nhiên sẽ lột bỏ mặt nạ của thế gian và cho thấy Thiên Chúa trong mọi sự, mà nó sẽ làm những chữ như 'không thể được', 'lo âu', 'nguy hiểm', và 'sợ hãi' trở thành vô nghĩa... nó thật hiếm là chừng nào!"

Khi chiến tranh xảy ra năm 1914, các phần tử của bộ lạc Senussi cuồng tín dụ dỗ người Tuareg nổi lên chống lại nước Pháp. Tuy nhiên, người Tuareg vẫn trung thành với Pháp, chính yếu là vì họ trung thành với đạo sĩ Kitô Giáo.

Vào ngày 1 tháng Mười Hai, 1916, Anh Charles khóa cửa ở trong dinh, một khu nhà nhỏ giống như đồn lính. Nghe tiếng gõ cửa và một giọng quen thuộc gọi tên mình anh mở khóa và bước ra.

Ngay lập tức anh bị một nhóm người Senussi bắt trói và buộc anh ngồi xổm trước dinh. Một Giuđa đã phản bội anh; tiếng nói quen thuộc ấy là người con lai Tuareg mà anh đã đối xử tử tế với họ. "Đây là ý Chúa," anh thì thầm, trong khi người Senussi cướp phá đồn thì đứa trẻ mười lăm tuổi canh giữ anh.

Có lẽ chúng không có ý định giết anh, nhưng đúng lúc ấy hai người lính Ả Rập từ đồn kế cận cưỡi ngựa tiến về phía họ, hiển nhiên là có ý đến thăm vị đạo sĩ này. Cốt để cảnh giác họ, Anh Charles đưa tay vội ra dấu. Đứa trẻ, với cây súng trên tay, hốt hoảng và bóp cò. Anh Charles "de Jesus", Tử Tước "de Foucauld", nằm chết với một viên đạn xuyên qua óc.

Có lần anh viết, "Khi bạn khởi sự công việc gì, đừng bao giờ trở về mà chưa hoàn tất."

Nhưng lời ấy thật thấm thía, bạn có thể nghĩ như vậy, từ một nhà truyền giáo chưa cải đạo được một ai; từ một vị sáng lập chết đi mà không có người nối gót.

Nhưng Charles không phải là một nhà truyền giáo trong ý nghĩa thông thường. Anh không có ý định trực tiếp thay đổi tín ngưỡng của ai đó, nhưng để cho người Hồi Giáo, là những người rất sùng mộ, thấy được cuộc đời của Đức Kitô trong thực tế đời sống.

Và nhà dòng mà anh rầu rĩ thất bại thành lập thì sao? "Nơi tôi gieo, người khác sẽ gặt," anh đã tiên đoán như vậy. Ngày nay, không ít hơn năm tu hội tiếp tục công trình của anh, ba tu hội dành cho nữ giới và hai tu hội dành cho nam giới; không chỉ trong các sa mạc ở Phi Châu, nhưng ở các sa mạc thành phố của Chicago, Hoa Thịnh Đốn, Luân Đôn và Leed. Ở mọi nơi các tiểu đệ và tiểu muội chia sẻ đời sống của người nghèo, cùng làm việc với họ, đồng hình dạng với họ trong một hình thức đời sống tu trì hoàn toàn mới. Trong rừng già Venezuela, nơi đồi trụy ở Hồng Kông, đi chăn cừu ở Province, mở trạm phát thuốc ở Benares, trong xưởng máy, bệnh viện-ngay cả trong nhà tù-những tiểu muội, tiểu đệ anh hùng này đang theo chân Anh Charles. Họ là mùa màng mà anh đã gieo, vào tối tháng Mười Hai năm 1916, khi máu anh thấm xuống cát.

Đức Khánh lược dịch